Gửi thông tin liên hệ
Khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn hoặc có bất kỳ yêu cầu nào liên quan đến các nội dung đăng tải trên Blog này, hãy điền và gửi thông tin theo mẫu bên dưới.
Nhãn
AIB
An toàn
Attraction Law
Bài thuốc
BRC
Cây ăn quả
Cây cảnh
Cây thuốc
Dinh dưỡng
Dược phẩm
Gia đình
Giải độc
Giải pháp
Giáo dục
GMP
HACCP
Hạt giống tâm hồn
Hoa cỏ
IFS
ISO
Khoa học
Kinh doanh
Kỹ năng
Lang:En
Lang:Vi
Lãnh đạo
Mẹo
Món ngon
Mỹ Phẩm
Nghệ thuật
Nhân vật
Nuôi trồng
PAS
Photo
QCVN
Quản lý dự án
Quản trị
Rau ăn lá
Sắc đẹp
Stress
Sức khỏe
TCVN
Thư viện
Thực phẩm
Thức uống
Thực vật
Tình yêu
Trái cây
Tranh vẽ
Trắc nghiệm
Video
VietGAP
XTVFamily
zan
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài thuốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Cải bắp: món ăn bổ, bài thuốc hay
Cải bắp có nhiều loại: cải bắp trắng, cải bắp đỏ, su hào, cải hoa… Đây là loại rau rẻ tiền, dễ mua, dễ kiếm, thường được chế biến thành các món luộc, xào, nấu canh, trộn gỏi, muối dưa… cho bữa ăn hàng ngày. Ít ai biết cải bắp không chỉ là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng mà còn là vị thuốc chữa được nhiều bệnh trong y học cổ truyền [1].
- 200gr tôm còn nguyên vỏ
- 1 vắt me chua
- Ngò gai (mùi tàu)
- Muối
- Nước mắm
- Hạt nêm.
![]() |
| Nguồn: wikipedia.org |
Giá trị dinh dưỡng và dược tính [1]
Cải bắp, bắp cải hay sú, tên khoa học là Brassica oleracea L.var.capitata L, thuộc họ cải (Brassicaceae), là loại rau ôn đới được nhập vào trồng ở nước ta từ lâu tại một số tỉnh phía Bắc – Đà Lạt, các huyện ngoại thành TP.HCM và vùng đồng bằng sông Cửu Long…
Người ta đã xác định trong cải bắp tươi có: 90g% nước, 1,8g% protid, 5,4g% glucid, 1,6g% cellulose, 1,2g% chất trơ. Cải bắp cũng giàu về muối khoáng, nhất là canxi (48mg%), phốtpho (31mg%). Lượng vitamin C trong cải bắp chỉ thua cà chua, nhưng nhiều gấp 4,5 lần càrốt; 3,6 lần khoai tây, hành tây!
Cải bắp được dùng làm thuốc ở châu Âu từ thời thượng cổ. Ngày nay người ta biết nhiều hơn về tác dụng chữa bệnh của loại rau này như: có thể dùng làm thuốc trị giun; đắp ngoài làm thuốc tẩy uế và làm liền sẹo các vết thương, mụn nhọt, các vết thương ác tính, đồng thời là loại thuốc trị sâu bọ tốt (ong, nhện…) Nó còn được dùng làm thuốc giảm đau trong bệnh thấp khớp, thống phong, đau thần kinh hông (lấy lá cải bắp ủi cho mềm, sau đó đắp lên các phần bị đau); giúp làm sạch đường hô hấp bằng cách dùng đắp (trị viêm họng khàn tiếng), hoặc uống trong (chữa ho, viêm sưng phổi). Cải bắp cũng là thuốc chống hoại huyết, trị lỵ và là nguồn cung cấp lưu huỳnh cho cơ thể. Nước sắc bắp cải dùng để lọc máu. Đặc biệt cải bắp còn là vị thuốc chống kích thích thần kinh và chứng mất ngủ rất tốt. Những người hay lo âu, học sinh sắp đi thi, người bị suy nhược thần kinh, mệt mỏi liên miên nên dùng cải bắp thường xuyên.
Nước cải bắp giúp khoẻ dạ dày [1]
Người ta còn sử dụng cải bắp để chữa đau dạ dày, xuất phát từ thông tin vào năm 1948, các nhà khoa học đã phát hiện trong cải bắp có một chất chống loét gọi là vitamin U, giúp chữa loét dạ dày – tá tràng, viêm dạ dày – ruột, viêm đại tràng. Do vitamin U bị huỷ ở nhiệt độ cao, nên dùng nước ép cải bắp tươi nếu muốn phát huy tác dụng này.
Một ký lá cải bắp tươi sẽ cho 500 – 700ml nước ép, nếu giã tươi lấy nước cốt thì được 350 – 500ml. Dùng nước ép hoặc nước cốt cải bắp uống trong ngày với liều 1.000ml, chia làm 4 – 5 lần (có thể pha thêm đường hay muối, dùng nóng hay lạnh). Điều trị liền trong vòng hai tháng, sẽ có kết quả rõ rệt đối với bệnh nhân có ổ loét chưa sâu lắm.
Các loại cải khác như cải rổ (var.viridis L), cải bẹ dúng (var.sabauda.), súp lơ, cải hoa (var.botrytis L)… đều có tác dụng chữa bệnh như cải bắp.
Món ngon từ cải bắp
Canh chua bắp cải [2]
Nguyên liệu:
- 1/2 bắp cải vừa ăn- 200gr tôm còn nguyên vỏ
- 1 vắt me chua
- Ngò gai (mùi tàu)
- Muối
- Nước mắm
- Hạt nêm.
Cách thực hiện:
Nguồn:
[1] Đăng tải trên sgtt.vn GS.TS Võ Văn Chi, Chuyên gia cây thuốc Việt Nam; nguyên giảng viên đại học Y dược TP.HCM.
[2] monngonviet.net
[3] eva.vn
1- Bắp cải dùng dao thái sợi mỏng, ngâm bắp cải vào thố nước lạnh có pha một chút muối, ngâm khoảng 15 phút.
Sau đó rửa lại cho thật sạch, để lên rổ cho ráo nước.
2- Tôm bóc bỏ vỏ, rút chỉ đen trên lưng cho thật sạch, gĩa thô tôm, ở đây mình dùng tôm có gạch, nên mình giã chung đầu tôm để tạo màu đẹp.
3- Ngò gai rửa sạch, thái nhỏ. Me lấy ra bát, thêm một ít nước sôi, dầm tan rồi lọc bỏ hột, giữ lại nước cốt. Xào tôm khoảng 3 phút, châm nước lạnh vào nồi, thêm nước cốt me, đun sôi.
4- Đun đến khi nồi canh sôi, bạn cho bắp cải vào đun cùng, nêm vào 2 thìa nhỏ muối, 1 thìa nhỏ nước mắm, nửa thìa nhỏ hạt nêm, đun đến khi bắp cải mềm, nêm nếm lại tùy theo khẩu vị của bạn, tắt bếp. Rắc hành lá, mùi tàu vào.
5- Bạn cho ra bát làm món canh ăn cùng với cơm. Đơn giản, dễ ăn là bốn từ miêu tả về món ăn này, bắp cải giòn, ngọt, nấu cùng với tôm, nước canh hơi chua chua, ngọt ngọt dùng làm món canh ăn với cơm rất ngon.
Dưa bắp cải [2]
- 1 bắp cải thật xanh, tươi
- Lọ, hũ thủy tinh dung tích khoảng 5 – 7 lít, miệng rộng, có nắp đậy, rửa sạch, để ráo. Vài nan tre mỏng hoặc dĩa sứ nặng có thể bỏ lọt vào hũ.
- 1 bó rau cần
- 1 bó rau răm
- 1 củ tỏi.
Cách thực hiện:
Bước 1:
- Bắp cải gỡ từng lá, rửa sạch, xắt sợi, để ráo.
- Rau cần rửa sạch, cắt khúc.
- Tỏi giã dập.
- Rau răm rửa sạch, cắt vừa.
Bước 2:
Nấu sôi 2 lít nước với 50gr muối bột, 100gr đường, 1/2 chén giấm. Nấu tan muối, đường rồi để mở vung cho mùi dấm bay hơi bớt, nước nguội bớt nhưng vẫn còn nóng già. Mình dùng giấm táo nên nước hơi có màu đỏ một chút.
Bước 3:
Trộn đều bắp cải, rau cần, rau răm, tỏi rồi cho vào lọ thủy tinh, nén nhẹ nhàng, đừng nén chặt quá nước muối sẽ khó thấm đều vào dưa. Gài vài nan tre ngang mặt dưa sao cho khi châm nước vào dưa sẽ không nổi lên trên; bạn cũng có thể dùng một dĩa sứ nặng đè trên mặt dưa.
Bước 4:
Châm hỗn hợp nước giấm còn nóng già vào hũ dưa, dưa sẽ dịu xuống nhanh, bạn đậy kín hũ dưa lại, cất nơi thoáng mát. Để qua một ngày là dưa bắt đầu chua, ngày thứ hai dưa vẫn còn nồng nhưng có thể dùng ăn kèm vài món ăn tùy khẩu vị.
Mỗi khi lấy dưa ra ăn, luôn nhấn chìm phần dưa còn lại trong hũ dưới mặt nước muối.
Sau khi ăn hết dưa, nếu muốn làm ngày một hũ khác thì bạn giữ lại một ít nước muối cũ, sau khi làm hũ dưa mới và châm nước muối mới vào thì cho thêm chừng 1 chén nước muối cũ, thời gian dưa chua sẽ nhanh hơn.
Dưa bắp cải là món ăn khá quen thuộc trong nhiều gia đình Việt mỗi khi mùa đông về, cũng là mùa bắp cải ở miền Bắc. Dưa bắp cải dễ làm và cũng dễ ăn, bạn có thể dùng ăn kèm các món thịt, cá kho, chiên... hay xào hoặc rang cơm ăn cũng rất ngon.
Bắp cải cuộn thịt hấp [3]
- Thịt lợn thăn: 200 g
- Bắp cải: 1 cái nhỏ
- Nấm hương: 10 cái
- Cà rốt: ½ củ
- Hành tây: ½ củ
- Hành hoa: 1 mớ nhỏ
- Mùi tàu
- Gia vị: các loại
Cách làm:
Bước 1: Cà rốt, hành tây rửa sạch bào sợi, rau mùi thái nhỏ. Mộc nhĩ ngâm nở thái nhỏ.
Bước 2: Thịt lợn rửa sạch qua nước muối loãng rồi thái mỏng, băm nhỏ rồi cho vào bát tô.
Bước 3: Cho hỗn hợp cà rốt, hành tây, mùi tàu và nấm hương vào bát.
Bước 4: Nêm một chút gia vị và trộn đều.
Bước 5: Bắp cải, hành lá rửa sạch, để ráo nước.
Bước 6: Đặt nồi nước lên bếp đun sôi rồi trần qua hành hoa và bắp cải.
Bước 7: Đặt nhân thịt vào lá bắp cải rồi cuộn tròn như nem, dùng hành hoa buộc lại cho vào xửng hấp cách thủy.
Bước 8: Khoảng 20 phút khi bắp cải cuộn thịt chín mềm, gắp ra đĩa rồi ăn nóng chấm với tương ớt.
TIÊU CHUẨN NGÀNH HẠT GIỐNG CẢI BẮP - YÊU CẦU KỸ THUẬT
KỸ THUẬT TRỒNG CẢI BẮP
Nguồn:
[1] Đăng tải trên sgtt.vn GS.TS Võ Văn Chi, Chuyên gia cây thuốc Việt Nam; nguyên giảng viên đại học Y dược TP.HCM.
[2] monngonviet.net
[3] eva.vn
Đăng bởi : xtvfamily
Ngày đăng : Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013
Nhận xét : 0
Ăn Mai - Uống Đào!
Những ngày tết Nguyên đán, trong gia đình của mỗi người dân Việt Nam đều chưng một cây mai (người miền Nam) hoặc đào (miền Bắc). Chúng ta thường nghĩ hoa tết chỉ để làm cảnh, chưng cho đẹp, mấy ai biết lúc thiếu rau, khi ăn uống không tiêu, khi ho… chúng ta có thể hái nó xuống ăn hoặc dùng làm thuốc.
Hoa mai: khơi lòng nhẹ ngực
![]() |
| Hoa mai trắng. Ảnh: Q. Như |
Hoa mai trắng (ở ta chính là hoa của cây mơ, còn gọi là lạp mai, bạch mai, tuyết lý hoa…) chứa nhiều tinh dầu như cineole, borneol, linalool, benzyl alcohol, farnesol, terpineol, indol... và một số chất khác như meratin, calycanthine, caroten... Nghiên cứu hiện đại cho thấy, hoa mai trắng có tác dụng thúc đẩy bài tiết dịch mật, ức chế một số loại vi khuẩn như coli, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lao... Theo dược học cổ truyền, hoa mai trắng vị ngọt hơi đắng, tính ấm, không độc, có công dụng giải thử sinh tân, khai vị tán uất, hoá đàm, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt cao phiền khát, tức ngực, ho, hầu họng sưng đau, bỏng, lao hạch, chán ăn, chóng mặt... Các y thư cổ đều ghi lại nhiều phương thuốc dùng hoa mai:
Tăng huyết áp, cơn đau thắt ngực: hoa mai 3g, thảo quyết minh 10g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Trúng thử gây tâm phiền, đau đầu, chóng mặt: hoa mai 15g, hoa cúc trắng 15g, hoa hồng 15g, hãm uống thay trà.
Chướng bụng, đầy hơi: hoa mai 10g, mộc hương 10g, hương phụ 15g, sắc uống.
Đau bụng do lạnh: hoa mai và chu sa liên lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 3 – 6g với rượu nhạt.
Buồn nôn: hoa mai 5g, nước cốt gừng tươi 5ml. Đem hoa mai hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút là dùng được, chắt ra hoà thêm nước gừng tươi rồi uống, mỗi ngày dùng hai thang.
Đau khớp do phong thấp: hoa mai 9g, thạch nam đằng 9g, thố nhĩ phong 9g, đem ngâm với 200ml rượu, mỗi lần uống 30 – 50ml.
Viêm họng, viêm amiđan: hoa mai 6g, huyền sâm 9g, bản lam căn 9g, sắc uống.
Ho dai dẳng: hoa mai 9g hãm uống thay trà trong ngày.
Còn hoa mai vàng (còn gọi huỳnh mai) vỏ cây có vị đắng, tác dụng giúp tiêu hoá. Lá non của mai vàng có thể dùng làm rau xanh. Ở miền Nam, người ta phơi hay sấy khô vỏ cây mai vàng, rồi ngâm vào rượu để chiết những chất có vị đắng, làm thuốc bổ, lợi tiêu hoá. Vào những ngày tết, ăn nhiều thịt, mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh, nếu làm một ly rượu đắng mai vàng khai vị, sẽ thấy ngon miệng hơn. Trong đông y, rễ mai vàng có thể dùng làm thuốc xổ (tẩy) nhẹ sán lãi và làm thuốc chữa trị các hỗn loạn bạch huyết.
Hoa đào: xuân lại làn da
| Hoa đào. Ảnh: T. Linh |
Cây đào có danh pháp khoa học Prunus persica. Theo y học cổ truyền, hoa đào có tính bình, vị đắng, đi vào hai kinh can - vị, có công năng hoạt huyết, lợi thuỷ, thông tiện, chữa trị chứng thuỷ thũng, đàm ẩm, tích trệ, đại tiểu tiện không lợi, kinh nguyệt không thông...
Hoa đào tươi hoặc khô đều được dùng làm thuốc, nhưng hoa tươi, đặc biệt là loại mới chớm nở tốt hơn hoa khô. Tốt nhất là dùng ở dạng trà. Mỗi ngày hãm 5g trong nước sôi, thêm một ít mật ong, uống vào sáng sớm. Đối với chị em phụ nữ, dùng nước sắc hoa đào rửa mặt có thể làm giảm nếp nhăn trên da mặt. Hoặc lấy hoa đào, nhân hạt bí đao lượng bằng nhau nghiền mịn, trộn với mật ong, buổi tối xoa lên mặt, sáng dậy rửa đi, các vết nhăn sẽ giảm dần. Đối với những người da mẫn cảm, có nhọt lâu khỏi, mụn mủ đặc, có thể trong uống ngoài thoa.
Cần lưu ý, phụ nữ có thai không nên dùng, vì thuốc có tác dụng phụ gây hưng phấn tử cung.
Đừng nài hoa ép liễu mà hoạ vào thân
Trong y học cổ truyền, các loại hoa đều có tính vị riêng và cho tác dụng ở các kinh lạc khác nhau trong cơ thể. Dùng đúng cách đúng liều thì tác dụng tốt cho cơ thể, phòng bệnh, chống lão hoá, giúp trẻ lâu. Cách đơn giản nhất là tự chế thành trà, dễ uống và còn giữ được mùi thơm, tuy nhiên cần lưu ý: hoa thường có cấu tạo mỏng manh, do đó dễ bị hư hỏng nếu bảo quản không đúng cách, chỉ nên phơi trong mát hoặc sấy nhẹ ở 50oC, giữ kín trong lọ để giữ mùi hương, nên dùng phương pháp hãm nước sôi hoặc đun sôi nhanh để tránh mất hoạt chất. Hoa có tác dụng hoạt huyết, thông kinh, phá huyết, ứ khứ (như đào, hồng, nguyệt lý, linh lăng, phượng tiên) không được dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh, huyết ra nhiều. Những người có cơ địa dị ứng cần rất thận trọng khi dùng phấn hoa.
Nếu chưa biết rõ tính chất dược lý của hoa thì không nên dùng, chỉ được dùng theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa, và cần được theo dõi chặt chẽ.
TS.DS LÊ THỊ HỒNG ANH
THẦY THUỐC ƯU TÚ, TRUNG ƯƠNG HỘI ĐÔNG Y VIỆT NAM.
Nguồn:
[1] sgtt.vn
Đăng bởi : xtvfamily
Ngày đăng : Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013
Nhận xét : 0
Vàng từ cây lược vàng
Cây lược vàng có tên tiếng Anh là “basket plant” (cây giỏ – vì thường được trồng trong những giỏ nhỏ để trong nhà) tên Latinh là Callisia fragrans, thuộc họ thài lài Commelinaceae. Chính nhờ thành phần các chất sinh học hiện diện trong cây có tác dụng hiệu quả trên cơ thể người, mà cây lược vàng đang được nhiều nước quan tâm nghiên cứu.
| Gần như loại thảo dược nào cũng có khả năng gây tác dụng phụ và cây lược vàng không phải là ngoại lệ. Ảnh: Anh Duy |
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ và Canada, dịch ép từ cây lược vàng rất giàu các chất kích thích sinh học có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư. Những chất này còn có khả năng chữa lành các bệnh mắt, viêm loét dạ dày tá tràng, hen suyễn, và nhiều bệnh khác nữa. Nó làm tăng quá trình biến dưỡng, làm tăng khả năng bảo vệ cơ thể và đồng thời thúc đẩy quá trình tái sinh (đổi mới) các tế bào trong cơ thể.
Đăng bởi : xtvfamily
Ngày đăng : Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011
Nhận xét : 0

