Gửi thông tin liên hệ

Khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn hoặc có bất kỳ yêu cầu nào liên quan đến các nội dung đăng tải trên Blog này, hãy điền và gửi thông tin theo mẫu bên dưới.
Tên:
Email *:
Nội dung *:

Cải bắp: món ăn bổ, bài thuốc hay

Cải bắp có nhiều loại: cải bắp trắng, cải bắp đỏ, su hào, cải hoa… Đây là loại rau rẻ tiền, dễ mua, dễ kiếm, thường được chế biến thành các món luộc, xào, nấu canh, trộn gỏi, muối dưa… cho bữa ăn hàng ngày. Ít ai biết cải bắp không chỉ là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng mà còn là vị thuốc chữa được nhiều bệnh trong y học cổ truyền [1].
Nguồn: wikipedia.org


Giá trị dinh dưỡng và dược tính [1]

Cải bắp, bắp cải hay sú, tên khoa học là Brassica oleracea L.var.capitata L, thuộc họ cải (Brassicaceae), là loại rau ôn đới được nhập vào trồng ở nước ta từ lâu tại một số tỉnh phía Bắc – Đà Lạt, các huyện ngoại thành TP.HCM và vùng đồng bằng sông Cửu Long… 

Người ta đã xác định trong cải bắp tươi có: 90g% nước, 1,8g% protid, 5,4g% glucid, 1,6g% cellulose, 1,2g% chất trơ. Cải bắp cũng giàu về muối khoáng, nhất là canxi (48mg%), phốtpho (31mg%). Lượng vitamin C trong cải bắp chỉ thua cà chua, nhưng nhiều gấp 4,5 lần càrốt; 3,6 lần khoai tây, hành tây! 

Cải bắp được dùng làm thuốc ở châu Âu từ thời thượng cổ. Ngày nay người ta biết nhiều hơn về tác dụng chữa bệnh của loại rau này như: có thể dùng làm thuốc trị giun; đắp ngoài làm thuốc tẩy uế và làm liền sẹo các vết thương, mụn nhọt, các vết thương ác tính, đồng thời là loại thuốc trị sâu bọ tốt (ong, nhện…) Nó còn được dùng làm thuốc giảm đau trong bệnh thấp khớp, thống phong, đau thần kinh hông (lấy lá cải bắp ủi cho mềm, sau đó đắp lên các phần bị đau); giúp làm sạch đường hô hấp bằng cách dùng đắp (trị viêm họng khàn tiếng), hoặc uống trong (chữa ho, viêm sưng phổi). Cải bắp cũng là thuốc chống hoại huyết, trị lỵ và là nguồn cung cấp lưu huỳnh cho cơ thể. Nước sắc bắp cải dùng để lọc máu. Đặc biệt cải bắp còn là vị thuốc chống kích thích thần kinh và chứng mất ngủ rất tốt. Những người hay lo âu, học sinh sắp đi thi, người bị suy nhược thần kinh, mệt mỏi liên miên nên dùng cải bắp thường xuyên. 


Nước cải bắp giúp khoẻ dạ dày [1]


Người ta còn sử dụng cải bắp để chữa đau dạ dày, xuất phát từ thông tin vào năm 1948, các nhà khoa học đã phát hiện trong cải bắp có một chất chống loét gọi là vitamin U, giúp chữa loét dạ dày – tá tràng, viêm dạ dày – ruột, viêm đại tràng. Do vitamin U bị huỷ ở nhiệt độ cao, nên dùng nước ép cải bắp tươi nếu muốn phát huy tác dụng này. 

Một ký lá cải bắp tươi sẽ cho 500 – 700ml nước ép, nếu giã tươi lấy nước cốt thì được 350 – 500ml. Dùng nước ép hoặc nước cốt cải bắp uống trong ngày với liều 1.000ml, chia làm 4 – 5 lần (có thể pha thêm đường hay muối, dùng nóng hay lạnh). Điều trị liền trong vòng hai tháng, sẽ có kết quả rõ rệt đối với bệnh nhân có ổ loét chưa sâu lắm. 

Các loại cải khác như cải rổ (var.viridis L), cải bẹ dúng (var.sabauda.), súp lơ, cải hoa (var.botrytis L)… đều có tác dụng chữa bệnh như cải bắp.



Món ngon từ cải bắp

Canh chua bắp cải [2]

Nguyên liệu:

- 1/2 bắp cải vừa ăn
- 200gr tôm còn nguyên vỏ
- 1 vắt me chua
- Ngò gai (mùi tàu)
- Muối
- Nước mắm
- Hạt nêm.

Cách thực hiện:

1- Bắp cải dùng dao thái sợi mỏng, ngâm bắp cải vào thố nước lạnh có pha một chút muối, ngâm khoảng 15 phút.
Sau đó rửa lại cho thật sạch, để lên rổ cho ráo nước.

2- Tôm bóc bỏ vỏ, rút chỉ đen trên lưng cho thật sạch, gĩa thô tôm, ở đây mình dùng tôm có gạch, nên mình giã chung đầu tôm để tạo màu đẹp.

3- Ngò gai rửa sạch, thái nhỏ. Me lấy ra bát, thêm một ít nước sôi, dầm tan rồi lọc bỏ hột, giữ lại nước cốt. Xào tôm khoảng 3 phút, châm nước lạnh vào nồi, thêm nước cốt me, đun sôi.

4- Đun đến khi nồi canh sôi, bạn cho bắp cải vào đun cùng, nêm vào 2 thìa nhỏ muối, 1 thìa nhỏ nước mắm, nửa thìa nhỏ hạt nêm, đun đến khi bắp cải mềm, nêm nếm lại tùy theo khẩu vị của bạn, tắt bếp. Rắc hành lá, mùi tàu vào.

5- Bạn cho ra bát làm món canh ăn cùng với cơm. Đơn giản, dễ ăn là bốn từ miêu tả về món ăn này, bắp cải giòn, ngọt, nấu cùng với tôm, nước canh hơi chua chua, ngọt ngọt dùng làm món canh ăn với cơm rất ngon.


Dưa bắp cải [2]

Nguyên liệu:
- 1 bắp cải thật xanh, tươi
- Lọ, hũ thủy tinh dung tích khoảng 5 – 7 lít, miệng rộng, có nắp đậy, rửa sạch, để ráo. Vài nan tre mỏng hoặc dĩa sứ nặng có thể bỏ lọt vào hũ.
- 1 bó rau cần
- 1 bó rau răm
- 1 củ tỏi.


Cách thực hiện: 

Bước 1:
- Bắp cải gỡ từng lá, rửa sạch, xắt sợi, để ráo.
- Rau cần rửa sạch, cắt khúc.
- Tỏi giã dập.
- Rau răm rửa sạch, cắt vừa.

Bước 2:
Nấu sôi 2 lít nước với 50gr muối bột, 100gr đường, 1/2 chén giấm. Nấu tan muối, đường rồi để mở vung cho mùi dấm bay hơi bớt, nước nguội bớt nhưng vẫn còn nóng già. Mình dùng giấm táo nên nước hơi có màu đỏ một chút.

Bước 3:
Trộn đều bắp cải, rau cần, rau răm, tỏi rồi cho vào lọ thủy tinh, nén nhẹ nhàng, đừng nén chặt quá nước muối sẽ khó thấm đều vào dưa. Gài vài nan tre ngang mặt dưa sao cho khi châm nước vào dưa sẽ không nổi lên trên; bạn cũng có thể dùng một dĩa sứ nặng đè trên mặt dưa.

Bước 4:
Châm hỗn hợp nước giấm còn nóng già vào hũ dưa, dưa sẽ dịu xuống nhanh, bạn đậy kín hũ dưa lại, cất nơi thoáng mát. Để qua một ngày là dưa bắt đầu chua, ngày thứ hai dưa vẫn còn nồng nhưng có thể dùng ăn kèm vài món ăn tùy khẩu vị.

Mỗi khi lấy dưa ra ăn, luôn nhấn chìm phần dưa còn lại trong hũ dưới mặt nước muối.

Sau khi ăn hết dưa, nếu muốn làm ngày một hũ khác thì bạn giữ lại một ít nước muối cũ, sau khi làm hũ dưa mới và châm nước muối mới vào thì cho thêm chừng 1 chén nước muối cũ, thời gian dưa chua sẽ nhanh hơn.

Dưa bắp cải là món ăn khá quen thuộc trong nhiều gia đình Việt mỗi khi mùa đông về, cũng là mùa bắp cải ở miền Bắc. Dưa bắp cải dễ làm và cũng dễ ăn, bạn có thể dùng ăn kèm các món thịt, cá kho, chiên... hay xào hoặc rang cơm ăn cũng rất ngon.


Bắp cải cuộn thịt hấp [3]


Nguyên liệu:

- Thịt lợn thăn: 200 g
- Bắp cải: 1 cái nhỏ
- Nấm hương: 10 cái
- Cà rốt: ½ củ
- Hành tây: ½ củ
- Hành hoa: 1 mớ nhỏ
- Mùi tàu
- Gia vị: các loại

Cách làm:

Bước 1: Cà rốt, hành tây rửa sạch bào sợi, rau mùi thái nhỏ. Mộc nhĩ ngâm nở thái nhỏ. 

Bước 2: Thịt lợn rửa sạch qua nước muối loãng rồi thái mỏng, băm nhỏ rồi cho vào bát tô.

Bước 3: Cho hỗn hợp cà rốt, hành tây, mùi tàu và nấm hương vào bát.

Bước 4: Nêm một chút gia vị và trộn đều.

Bước 5: Bắp cải, hành lá rửa sạch, để ráo nước.

Bước 6: Đặt nồi nước lên bếp đun sôi rồi trần qua hành hoa và bắp cải.

Bước 7: Đặt nhân thịt vào lá bắp cải rồi cuộn tròn như nem, dùng hành hoa buộc lại cho vào xửng hấp cách thủy.

Bước 8: Khoảng 20 phút khi bắp cải cuộn thịt chín mềm, gắp ra đĩa rồi ăn nóng chấm với tương ớt.


TIÊU CHUẨN NGÀNH HẠT GIỐNG CẢI BẮP - YÊU CẦU KỸ THUẬT



KỸ THUẬT TRỒNG CẢI BẮP



Nguồn:

[1] Đăng tải trên sgtt.vn GS.TS Võ Văn Chi,  Chuyên gia cây thuốc Việt Nam; nguyên giảng viên đại học Y dược TP.HCM.
[2] monngonviet.net
[3] eva.vn
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013

Nhận xét : 0

Ăn Mai - Uống Đào!

Những ngày tết Nguyên đán, trong gia đình của mỗi người dân Việt Nam đều chưng một cây mai (người miền Nam) hoặc đào (miền Bắc). Chúng ta thường nghĩ hoa tết chỉ để làm cảnh, chưng cho đẹp, mấy ai biết lúc thiếu rau, khi ăn uống không tiêu, khi ho… chúng ta có thể hái nó xuống ăn hoặc dùng làm thuốc.

Hoa mai: khơi lòng nhẹ ngực

Hoa mai trắng. Ảnh: Q. Như
Cần phân biệt cây mai vàng (có tên khoa học là Ochna integerrima (Lour) Merr) với cây mai trắng (tên khoa học là Prunus armeniaca L). Trong y học cổ truyền, hoa mai trắng được dùng làm thuốc phổ biến hơn.

Hoa mai trắng (ở ta chính là hoa của cây mơ, còn gọi là lạp mai, bạch mai, tuyết lý hoa…) chứa nhiều tinh dầu như cineole, borneol, linalool, benzyl alcohol, farnesol, terpineol, indol... và một số chất khác như meratin, calycanthine, caroten... Nghiên cứu hiện đại cho thấy, hoa mai trắng có tác dụng thúc đẩy bài tiết dịch mật, ức chế một số loại vi khuẩn như coli, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lao... Theo dược học cổ truyền, hoa mai trắng vị ngọt hơi đắng, tính ấm, không độc, có công dụng giải thử sinh tân, khai vị tán uất, hoá đàm, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt cao phiền khát, tức ngực, ho, hầu họng sưng đau, bỏng, lao hạch, chán ăn, chóng mặt... Các y thư cổ đều ghi lại nhiều phương thuốc dùng hoa mai:

Tăng huyết áp, cơn đau thắt ngực: hoa mai 3g, thảo quyết minh 10g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Trúng thử gây tâm phiền, đau đầu, chóng mặt: hoa mai 15g, hoa cúc trắng 15g, hoa hồng 15g, hãm uống thay trà.

Chướng bụng, đầy hơi: hoa mai 10g, mộc hương 10g, hương phụ 15g, sắc uống.

Đau bụng do lạnh: hoa mai và chu sa liên lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 3 – 6g với rượu nhạt.

Buồn nôn: hoa mai 5g, nước cốt gừng tươi 5ml. Đem hoa mai hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút là dùng được, chắt ra hoà thêm nước gừng tươi rồi uống, mỗi ngày dùng hai thang.

Đau khớp do phong thấp: hoa mai 9g, thạch nam đằng 9g, thố nhĩ phong 9g, đem ngâm với 200ml rượu, mỗi lần uống 30 – 50ml.

Viêm họng, viêm amiđan: hoa mai 6g, huyền sâm 9g, bản lam căn 9g, sắc uống.

Ho dai dẳng: hoa mai 9g hãm uống thay trà trong ngày.

Còn hoa mai vàng (còn gọi huỳnh mai) vỏ cây có vị đắng, tác dụng giúp tiêu hoá. Lá non của mai vàng có thể dùng làm rau xanh. Ở miền Nam, người ta phơi hay sấy khô vỏ cây mai vàng, rồi ngâm vào rượu để chiết những chất có vị đắng, làm thuốc bổ, lợi tiêu hoá. Vào những ngày tết, ăn nhiều thịt, mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh, nếu làm một ly rượu đắng mai vàng khai vị, sẽ thấy ngon miệng hơn. Trong đông y, rễ mai vàng có thể dùng làm thuốc xổ (tẩy) nhẹ sán lãi và làm thuốc chữa trị các hỗn loạn bạch huyết.


Hoa đào: xuân lại làn da


Hoa đào. Ảnh: T. Linh
Cây đào có danh pháp khoa học Prunus persica. Theo y học cổ truyền, hoa đào có tính bình, vị đắng, đi vào hai kinh can - vị, có công năng hoạt huyết, lợi thuỷ, thông tiện, chữa trị chứng thuỷ thũng, đàm ẩm, tích trệ, đại tiểu tiện không lợi, kinh nguyệt không thông...

Hoa đào tươi hoặc khô đều được dùng làm thuốc, nhưng hoa tươi, đặc biệt là loại mới chớm nở tốt hơn hoa khô. Tốt nhất là dùng ở dạng trà. Mỗi ngày hãm 5g trong nước sôi, thêm một ít mật ong, uống vào sáng sớm. Đối với chị em phụ nữ, dùng nước sắc hoa đào rửa mặt có thể làm giảm nếp nhăn trên da mặt. Hoặc lấy hoa đào, nhân hạt bí đao lượng bằng nhau nghiền mịn, trộn với mật ong, buổi tối xoa lên mặt, sáng dậy rửa đi, các vết nhăn sẽ giảm dần. Đối với những người da mẫn cảm, có nhọt lâu khỏi, mụn mủ đặc, có thể trong uống ngoài thoa.

Cần lưu ý, phụ nữ có thai không nên dùng, vì thuốc có tác dụng phụ gây hưng phấn tử cung.

Đừng nài hoa ép liễu mà hoạ vào thân

Trong y học cổ truyền, các loại hoa đều có tính vị riêng và cho tác dụng ở các kinh lạc khác nhau trong cơ thể. Dùng đúng cách đúng liều thì tác dụng tốt cho cơ thể, phòng bệnh, chống lão hoá, giúp trẻ lâu. Cách đơn giản nhất là tự chế thành trà, dễ uống và còn giữ được mùi thơm, tuy nhiên cần lưu ý: hoa thường có cấu tạo mỏng manh, do đó dễ bị hư hỏng nếu bảo quản không đúng cách, chỉ nên phơi trong mát hoặc sấy nhẹ ở 50oC, giữ kín trong lọ để giữ mùi hương, nên dùng phương pháp hãm nước sôi hoặc đun sôi nhanh để tránh mất hoạt chất. Hoa có tác dụng hoạt huyết, thông kinh, phá huyết, ứ khứ (như đào, hồng, nguyệt lý, linh lăng, phượng tiên) không được dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh, huyết ra nhiều. Những người có cơ địa dị ứng cần rất thận trọng khi dùng phấn hoa.

Nếu chưa biết rõ tính chất dược lý của hoa thì không nên dùng, chỉ được dùng theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa, và cần được theo dõi chặt chẽ.

TS.DS LÊ THỊ HỒNG ANH
THẦY THUỐC ƯU TÚ, TRUNG ƯƠNG HỘI ĐÔNG Y VIỆT NAM.

Nguồn:
[1] sgtt.vn
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Nhận xét : 0

Vàng từ cây lược vàng

Cây lược vàng có tên tiếng Anh là “basket plant” (cây giỏ – vì thường được trồng trong những giỏ nhỏ để trong nhà) tên Latinh là Callisia fragrans, thuộc họ thài lài Commelinaceae. Chính nhờ thành phần các chất sinh học hiện diện trong cây có tác dụng hiệu quả trên cơ thể người, mà cây lược vàng đang được nhiều nước quan tâm nghiên cứu.

Gần như loại thảo dược nào cũng có khả năng
gây tác dụng phụ và cây lược vàng không phải là ngoại lệ.
Ảnh: Anh Duy
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ và Canada, dịch ép từ cây lược vàng rất giàu các chất kích thích sinh học có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư. Những chất này còn có khả năng chữa lành các bệnh mắt, viêm loét dạ dày tá tràng, hen suyễn, và nhiều bệnh khác nữa. Nó làm tăng quá trình biến dưỡng, làm tăng khả năng bảo vệ cơ thể và đồng thời thúc đẩy quá trình tái sinh (đổi mới) các tế bào trong cơ thể.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011

Nhận xét : 0

Hoa mười giờ

Hoa mười giờ 
Hoa mười giờ hay rau sam hoa lớn (danh pháp khoa học: Portulaca grandiflora) là một loài cây thân mọng nước, nhỏ, nhiều nhánh và lớn nhanh trong họ Rau sam (Portulacaceae). Tên gọi mười giờ là do hoa của nó thường chỉ nở từ khoảng 8/9 giờ đến 10 giờ sáng trong ngày. Là loại cây thân thảo, cao khoảng 10-15 cm. Lá hình dải hơi dẹt, dài 1,5-2 cm, mép nguyên, thân có màu hồng nhạt, lá có màu xanh nhạt [1]

Loài thực vật này có nguồn gốc Nam Mỹ, nhưng được trồng rộng rãi trong các khu vực ôn đới cũng như trong vai trò của cây trồng một năm theo luống trong vườn. Hoa sặc sỡ, với màu sắc có thể là đỏ, cam, hồng, trắng hay vàng [1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Nhận xét : 0

Ốc Sên

Ốc sên là một loại động vật thân mềm (nhuyễn thể), vỏ to, dày. Đầu có 2 xúc tu (râu), toàn thân liền trong vỏ bao bọc bởi một lớp nhày. Ốc sên ưa thích sống nơi gốc cây ẩm ướt. Bò chậm chạp, kỷ lục nhanh nhất thuộc về một con ốc sên vườn, ở Pháp, trong 2 phút bò được 60cm. Trong môi trường tự nhiên vào mùa khô, chúng có thể ngủ trong nhiều tháng, nhưng chỉ cần một trận mưa rào (thường vào mùa xuân), chúng bừng tỉnh và hoạt động bình thường. Ốc sên cảm nhận bằng mùi, có 2 mắt ở 2 đỉnh râu... Họ ốc sên (Achatinidae) có nhiều loại, phổ biến là ốc sên hoa (Achatinafulica). Loại này, khoảng 2 năm tuổi, trọng lượng trung bình một con có thể đạt từ 50-60g, cá biệt: 140g. Ốc sên lớn nhất là loài Achatine Achatina, có ở châu Phi, con lớn nhất có chiều dài từ râu đến đuôi: 39cm, nặng 900g.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

Nhận xét : 0

Su hào


Su hào (thoát âm từ Chouraves), còn gọi Rutabaga, tên khoa học Brassica napus L., tên đồng nghĩa: Brassica napobrassica (L.) Mill. Hoặc Brassica oleracea var. caulorapa. Là một cây rau cùng họ Thập tự với các loài Cải (Brassicaceae = Cruciferae). Thân thảo, rễ phát triển thành củ, có dạng tròn vụ, tròn dài (có khi đến 49 cm) hay tròn vụ bẹp, nhưng dạng trong ảnh là thường gặp nhất. Vỏ ngoài trắng hay tim tím, nạc củ trắng, vị hơi ngọt hay không vị. Hoa vàng, 4 cánh hoa xếp hình chữ thập, 6 nhị. Giác quả chứa nhiều hột. Su hào có nguồn gốc từ vùng quanh Địa Trung Hải, được du nhập vào nước ta từ thế kỷ 19, nay trồng khá phổ biến và phát triển tốt nhất tại vùng có nhiệt độ mùa đông từ -160 C đến 100 C và trồng được ở nơi có nhiệt độ mùa lạnh từ 10 – 220 C.

Su hào thường được thu hoạch khi còn non mang lá còn xanh, củ còn mềm vì khi già củ hóa xơ (do các bó mạch hóa gỗ khá nhanh).
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Nhận xét : 0

Hoa sứ: Bài thuốc không phải ai cũng dùng được.

Nhiều dược tính, nhiều màu, nhiều tên: sứ, đại,
chămpa, miễn chi, kê đảm tử... Ảnh: Việt Hùng
Trong y học cổ truyền, các bộ phận của hoa sứ (còn gọi hoa đại) đều có thể dùng làm thuốc. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể sử dụng các chế phẩm được tinh chế từ loại cây kiểng quen thuộc này.

Quốc hoa nhiều nước

Cây sứ có tên khoa học là Plumeria rubra L. var. acutifolia (Poir.) Bailey, thuộc họ trúc đào (Apocynaceae), nguồn gốc từ Trung Mỹ và Caribe, là quốc hoa của Nicaragua và Lào. Các tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là cây đại, bông sứ, chămpa; ngoài ra còn có tên miễn chi, kê đảm tử. Cây sứ ra hoa có màu từ trắng, vàng tới hồng, đỏ. Đây là loài cây bụi lớn hay cây thân gỗ nhỏ, có thể cao đến 8 – 10m, mủ trắng. Hoa thơm, nở vào mùa hè và mùa thu. Hoa chủ yếu toả hương về đêm nhằm lôi kéo các loài bướm nhân sư (họ Sphingidae) thụ phấn cho chúng. Lá mọc so le, bản to, hình bầu dục hay xoan thuôn, có mũi ngắn, không lông hoặc ít khi có lông ở mặt dưới. Hoa thường có tâm vàng, cánh hoa dày, nhuỵ nhiều dính trên ống tràng. Quả choãi ra thẳng hàng, dài khoảng 10 – 15cm. Hạt có cánh mỏng.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011

Nhận xét : 0

Bị ngộ độc thức ăn, hóa chất...phải làm thế nào?


Có một số cách giải trúng độc từ thức ăn, hóa chất... theo hướng dẫn của lương y Vũ Quốc Trung. Lưu ý đây là biện pháp sơ cứu ban đầu, sau đó nên đưa nạn nhân đến bệnh viện hoặc trung tâm y tế gần nhất.
 
Đậu xanh hạt, bột sắn dây, rau má là một số thực phẩm dùng giải độc - Ảnh: K.Vy
Nếu trúng độc sắn (khoai mì) thì có thể dùng rau muống 100g giã nhỏ vắt lấy nước cho uống. Hoặc dùng đậu xanh 40g nấu chín mềm cho người bệnh ăn (cũng có thể để sống giã nhỏ hòa với nước sôi để nguội cho uống). Hoặc dùng cây chuối hột bóc bỏ bẹ ngoài chỉ lấy nõn trắng ở trong một đoạn dài 20-40 cm giã nát, pha thêm nước cho uống. Hay dùng một cây mía róc bỏ vỏ ngoài cho ăn (hoặc ép lấy nước cho uống). Cũng có thể dùng rau sam 40-60g giã nhỏ vắt lấy nước cho uống (hoặc luộc chín cho ăn).
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

Nhận xét : 0

Bài thuốc chữa ho, cảm cho người lớn tuổi


Chuyển sang mùa thu, khí hậu có phần khác mùa hè. Một số bệnh thường xảy ra trong mùa này như viêm phế quản, rối loạn tiêu hóa... Ở đây đề cập về các bài thuốc chữa ho, trị cảm cho người lớn tuổi.

Mùa này, những người cao tuổi cần tránh để cơ thể bị lạnh đột ngột, và nên dùng các thực phẩm giàu năng lượng khi trời trở lạnh do mưa nhiều để duy trì cân bằng thân nhiệt. Một điều cần thiết nữa là giữ giấc ngủ yên trong đêm, bởi việc thường xuyên mất ngủ sẽ làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể, dễ dẫn đến bệnh. Cần chú ý đến bệnh ở đường hô hấp, tăng huyết áp...

Gừng, cải bẹ xanh và tỏi - Ảnh K.Vy
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Nhận xét : 0

Lá lốt

Lá lốt có tên khoa học là Piper lolot C. DC,  họ Hồ tiêu PIPERACEAE; là loại cây thảo sống dai, cao 30 – 40cm, mọc bò, thân cành có phủ ít lông và phồng lên ở các mấu. Lá đơn nguyên mọc so le, hình tim, rộng, nhẵn, mép uốn lượn, đáy hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá chằng chịt hình mạng lưới, cuống lá có bẹ ở gốc. Cụm hoa là một bông đơn độc ở kẽ lá. Quả mọng chứa một hạt. Cây ra hoa, có quả vào mùa thu, từ tháng 8 đến 10.[1]

Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Nhận xét : 0

Rau cần

Rau cần có 2 loại cần tây và cần ta, đều rất quen thuộc với dân ta trong bữa ăn hằng ngày.

Cần tây còn gọi cần cạn (trồng đất), cần lá to, cần thơm, cần đáng, cần thuốc. Đông y gọi dược cần (cần làm thuốc), dương khổ thái. Tên khoa học Apium gaveolens.

- Cần ta còn gọi cần nước, cần lá nhỏ, cần cơm, cần canh. Tên khoa học Oenanthe stolonifera.

Từ xưa người Hy Lạp dùng cần tây làm thuốc lợi tiểu, người Ai Cập dùng cần tây chữa bệnh tim. Hyppocrate đã hướng dẫn dùng chữa rối loạn thần kinh.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Nhận xét : 0

Cúc hoa

Cúc có nhiều loại được trồng khắp thế giới. Nó là loại hoa quý tượng trưng cho Phương Đông [1]

Cúc có nhiều loại được trồng khắp thế giới. Nó là loại hoa quý tượng trưng cho Phương Đông. Nhà sư Huyền Quang (đời Trần) đã có nhiều bài thơ tôn vinh giá trị hoa Cúc. Cúc còn là loài hoa chịu thời tiết khắc nghiệt nên gọi là “Hoa bất khuất”. Còn Đào Uyên Minh đời Tần, Trung Quốc cho hoa Cúc là loài hoa thanh cao, có khí tiết tượng trưng cho tâm hồn cao thượng, tránh được cuộc đời phồn hoa, ô trọc đã hướng về mình về nơi thiên nhiên. Nó còn là biểu tượng lòng chung thủy, ý chí bất khuất, cốt cách thanh khiết của người phương Đông.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Dâu tằm

Ảnh: img3.dailyinfo.vn
Tên khác: Tang (桑), Mạy môn (dân tộc Thổ); Dâu cang (dân tộc Mèo); Nằn phong (Dao); Tầm tang.[1]


Tên khoa học: Morus alba L., họ Dâu tằm (Moraceae). [1]
Mô tả: Cây gỗ, cao2-3 m. Lá mọc so le, hình bầu dục, nguyên hoặc chia 3 thùy, có lá kèm, đầu lá nhọn hoặc hơi tù. Phía cuống hơi tròn hoặc hơi bằng, mép có răng cưa to. Từ cuống lá tỏa ra 3 gân rõ rệt. Hoa đực mọc thành bông, có lá đài, 4 nhị (có khi 3). Hoa cái cũng mọc thành bông hay thành khối hình cầu, có 4 lá đài. Quả mọc trong các lá đài, màu đỏ, sau đen sẫm, ăn được, còn dùng làm thuốc hoặc ngâm rượu để uống, mùi thơm, vị chua ngọt.[1]


Bộ phận dùng: Vỏ rễ (Tang bạch bì - Cortex Mori). Lá (Tang diệp - Folium Mori). Cành (Tang chi - Ramulus Mori). Quả (Tang thầm - Fructus Mori). Tầm gửi trên cây Dâu (Tang ký sinh - Ramulus Loranthi). Tổ bọ ngựa trên cây Dâu (Tang phiêu tiêu - Ootheca Mantidis).[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Biểu hiện viêm loét dạ dày do vi khuẩn

Vi khuẩn đường ruột h.pylori (Helicobacter pylori) là loại vi khuẩn có trong bao tử và tá tràng gây loét hệ tiêu hóa. Tất cả chúng ta đều có thể nhiễm loại vi khuẩn này. Trường hợp nhiễm khuẩn nặng có thể gây ra các vết loét, thậm chí là ung thư dạ dày.

Triệu chứng

Đau bụng, dạ dày
Nóng vùng bụng
Dạ dày khó chịu
Cảm giác sưng phù lên
Hay ợ nóng
Nôn
Giảm cân không rõ nguyên nhân
Nếu bạn có những triệu chứng trên thì nên tìm gặp bác sỹ ngay lập tức  để kiểm tra xem có nhiễm khuẩn H.pylori không.

Các trường hợp bị nhiễm khuẩn nặng có thể bao gồm các triệu chứng:

Đau vùng bụng dữ dội
Khó nuốt
Nôn ra chất màu đen
Đi ngoài ra máu
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011

Nhận xét : 0

Lạc (Đậu phộng)



Ảnh: wikimedia.org
Lạc, còn được gọi là đậu phộng hay đậu phụng (danh pháp khoa học: Arachis hypogaea), là một loài cây thực phẩm thuộc họ Đậu có nguồn gốc tại Trung và Nam Mỹ. Nó là loài cây thân thảo hàng năm tăng có thể cao từ 3-50 cm. Lá mọc đối, kép hình lông chim với bốn lá chét, kích thước lá chét dài 1-7 cm và rộng 1-3 cm. Hoa dạng hoa đậu điển hình màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa dài 2-4 cm. Sau khi thụ phấn, quả phát triển thành một dạng quả đậu dài 3-7 cm, chứa 1-4 hạt (ánh), và quả (củ) thường dấu xuống đất để phát triển. Trong danh pháp khoa học của loài cây này thì phần tên chỉ tính chất loài có hypogaea nghĩa là “dưới đất” để chỉ đặc điểm quả được dấu dưới đất. Trong cách gọi tên tiếng Việt, từ “lạc” có nguồn từ  chữ Hán “lạc hoa sinh” (落花生) mà có người cho rằng người Hán đã phiên âm từ “Arachis”.[1]
Hạt lạc (ánh lạc) là loại thực phẩm rất giàu năng lượng vì có chứa nhiều lipit.[1]

Giá trị dinh dưỡng của Lạc [4]

Calo và các chất dinh dưỡng khác
Một khẩu phần ăn (khoảng 29g đậu phộng sống) sẽ bao gồm khoảng 161 đơn vị calo và 14g chất béo.
Một khẩu phần ăn (khoảng 29g đậu phộng sống) cho bạn 7,3g chất đạm; 4,6g carbohydrates và 2,4g chất xơ.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Bí đao (Bí xanh)

Ảnh: wikimedia.org
Bí đao còn có tên bí xanh (vỏ màu xanh có hoặc không có phấn). Tên Hán là đông qua. Tên khoa học là Benincasa cerifera Savi. Họ bầu bí Cucurbitaceae. [2]

Bản địa của bí đao là vùng Đông Nam Á nhưng nay phổ biến trồng khắp từ Nam Á sang Đông Á. Cây bí đao cần sức nóng mới mọc nhưng trái của nó thì chịu được nhiệt độ thấp, có thể để qua mùa đông mà không hư mặc dù dây bí đao chỉ mọc năm một, đến đông thì tàn. Lá bí đao xòe, hình bầu có lông giáp, bề ngang 10-20 cm. Hoa bí đao sắc vàng, mọc đơn.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

Nhận xét : 0

Một ly sữa chứa hơn 20 hóa chất giảm đau

Một ly sữa chứa hơn 20 hóa chất giảm đau
Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Tây Ban Nha và Morocco cho thấy, một ly sữa có thể chứa hỗn hợp của lên đến 20 chất giảm đau, kháng sinh và hoóc môn tăng trưởng.
Bằng một phương pháp xét nghiệm có độ nhạy cao, nhóm nghiên cứu quốc tế đã phát hiện ra hàng loạt hóa chất dùng để chữa trị bệnh cho người và động vật trong các mẫu sữa bò, dê và sữa mẹ.

Liều lượng các loại dược phẩm cao nhất được tìm thấy trong sữa bò. Các nhà khoa học tin rằng, một số loại thuốc và chất kích thích tăng trưởng đã được đưa vào gia súc hoặc thêm vào sữa thông qua việc cho bò ăn hoặc nhiễm độc ở trang trại.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Nhận xét : 0

Giá đỗ xanh

Không chỉ là thực phẩm, giá đỗ xanh
còn có tác dụng chữa bệnh rất tốt
Giá đỗ còn có tên là rau như ý, thuộc nhóm rau mầm làm từ các loại đỗ: đỗ xanh, đỗ đỏ, đỗ tương, đỗ đen… Giá của loại đỗ nào sẽ mang phần bản chất của loại đỗ sinh ra nó. Trong số các loại giá đỗ thì giá đỗ xanh (lục đậu) được dùng nhiều hơn vì tính năng tương đối toàn diện, dễ phổ cập. Ngoài tác dụng là thực phẩm, giá đỗ còn được dùng như một vị thuốc chữa bệnh.

Theo y học cổ truyền, giá đỗ vị nhạt hơi the, tính mát lạnh, tác dụng vào 2 kinh bàng quang và tỳ. Công năng thanh nhiệt giải độc, hạ hỏa, chỉ khát, thông tiểu, tiêu thực, trị bụng đầy tức, đi tiêu phân sống. Nó lại sinh tân dịch nên dùng tốt sau lao động ngoài nắng nóng. Giá đỗ có khả năng giải độc nói chung và một số kim loại độc, giải rượu.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2011

Nhận xét : 0

Món ăn củng cố tinh thần

Sức khỏe kém, tinh thần suy nhược... Lúc này chúng ta rất cần vài món ăn giúp phục hồi năng lượng, phấn chấn tinh thần.

1- Gà tiềm nhân sâm

Nhân sâm bổ khí, kiện não

Nguyên liệu: Nhân sâm 15g, mạch đông 30g, gà 1 con khoảng 1,5 kg, măng tây 100g, nấm hương 15g, một ít hành cọng, gừng 5 lát, rượu vang 30 ml, gia vị.


Cách làm: Gà làm sạch, bỏ nội tạng. Nhân sâm thái lát, mạch đông cùng thái hạt lựu cho vào chén thêm 100 ml nước, cho vào lò tiềm nửa giờ lấy ra.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Hành tây

Theo những nghiên cứu ghi chép thì hành được sử dụng từ những năm trước công nguyên và là một vị thuốc chữa được rất nhiều bệnh.[1]


Hành tây là một thành viên của gia đình hoa huệ tây và có “mối liên hệ mật thiết” với tỏi. Nó thường được gọi là "vua của các loại rau" vì hương vị cay nồng. [1]

Có nhiều loại hành với đủ loại màu sắc, kích thước và vị giác. Các củ hành nhỏ thì thường được gọi là hành lá, bao gồm hẹ, tỏi tây và hẹ tây. [1]

Lợi ích dinh dưỡng

Tuy cùng là một giống nhưng sự khác nhau về chủng loại, thời gian trồng và thời gian lưu trữ cũng làm cho các loại hành này có tác dụng dinh dưỡng khác nhau. [1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

Nhận xét : 0

- Copyright © Nhà XTV - Powered by Blogger - Redesigned by Phạm Xuân Tiến -