Gửi thông tin liên hệ
Nhãn
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nuôi trồng. Hiển thị tất cả bài đăng
Rau cần
Cần tây còn gọi cần cạn (trồng đất), cần lá to, cần thơm, cần đáng, cần thuốc. Đông y gọi dược cần (cần làm thuốc), dương khổ thái. Tên khoa học Apium gaveolens.
- Cần ta còn gọi cần nước, cần lá nhỏ, cần cơm, cần canh. Tên khoa học Oenanthe stolonifera.
Từ xưa người Hy Lạp dùng cần tây làm thuốc lợi tiểu, người Ai Cập dùng cần tây chữa bệnh tim. Hyppocrate đã hướng dẫn dùng chữa rối loạn thần kinh.
Ngày đăng : Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011
Nhận xét : 0
Lạc (Đậu phộng)
| Ảnh: wikimedia.org |
Giá trị dinh dưỡng của Lạc [4]
Calo và các chất dinh dưỡng khácNgày đăng : Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011
Nhận xét : 0
Hành tây
Lợi ích dinh dưỡng
Ngày đăng : Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011
Nhận xét : 0
Hoa Hồng
| Ảnh: wikimedia.org |
Ngày đăng : Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011
Nhận xét : 0
Chanh dây
Ngày đăng : Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011
Nhận xét : 0
Dâu tây
Ngày đăng : Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011
Nhận xét : 0
Sầu riêng
Ngày đăng : Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011
Nhận xét : 0
Hoa Sen
Món ngon từ Sen
Ngày đăng :
Nhận xét : 2
Hoa phượng vĩ
1/ Đặc điểm nhận biết [1]:
- Nhìn từ xa cây có dạng tán hình nấm.
Ngày đăng : Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011
Nhận xét : 0
Rau răm
Theo đông y: Rau răm có tác dụng chống viêm hạ khí, kích thích tiêu hoá, trừ phong hàn, hoạt huyết tiêu độc. Rau răm được dùng cả lá cả cây. Có thể dùng tươi hoặc phơi khô. Giã sống vắt lấy nước uống, bã đắp. Dùng khô sắc uống. Nó được dùng riêng hoặc phối hợp cùng những vị khác thành bài. Rau răm không độc.[1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Cây mít: Chữa bệnh - Các món ngon & Kỹ thuật trồng
Mít là loại cây to, cao khoảng 8-15m, có tên khoa học là artocarpus integrifolia linn, thuộc họ dâu tằm (moraceae). Cây mít được trồng phổ biến khắp nước ta, tại các vùng đồng bằng và tới độ cao 1.000m, rất gần gũi với người dân nông thôn. Mít có nhiều loại như: mít mật, mít dai, mít tố nữ (đặc sản miền Nam). Ngoài giá trị dinh dưỡng, nhiều bộ phận cây mít còn là vị thuốc hay.[1]
Quả mít to, dài chừng 30 – 60cm, đường kính 18 – 30cm, ngoài vỏ có gai. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được. Múi mít chín ăn rất thơm ngon. Xơ mít có thể dùng muối chua như muối dưa (gọi là nhút). Các quả mít non còn dùng như một loại rau củ để nấu canh, kho cá, trộn gỏi…[1]
Ngày đăng : Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011
Nhận xét : 0
Quả gấc
Gấc có giống quả vàng và giống quả đỏ được trồng nhiều ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. [1]
Bộ phận dùng: Hạt gấc đã bóc bỏ áo hạt, phơi hay sấy khô; dầu gấc được ép từ màng hạt đã phơi hoặc sấy khô; rễ thu hái vào mùa đông rửa sạch và phơi khô. [1]
Ngày đăng : Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011
Nhận xét : 0
Ngò om
Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm cao 15-30cm, thân mập giòn, rỗng ruột, có nhiều lông. Lá đơn, không cuống, có lông, mọc đối hoặc mọc vòng 3-5, lá mép lá hơi có răng cưa thưa, mặt dưới lá có nhiều đốm tuyến màu xanh. Hoa thường mọc đơn độc ở nách lá, không đều, cuống dài 1,5cm. Ðài hình chuông, chia 5 răng, dài 4-5mm. Tràng dài gấp đôi đài, chia 2 môi, cánh hoa màu tím nhạt. Nhị 4, chỉ nhị ngắn. Vòi nhuỵ nhẵn, đầu nhuỵ chẻ đôi. Quả nang hình trứng, không lông, nằm trong đài, chứa nhiều hạt.[1]
Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Limnophilae Aromaticae.[1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Ngò gai
Đặc điểm thực vật học:Phân loại khoa học Tên tiếng Anh: Sawtooth Coriander [1]
Tên khoa học: Eryngium foetidum (L).Giới (regnum): PlantaeNgành (divisio): MagnoliophytaLớp (class): MagnoliopsidaBộ (ordo): Apiales [1]
Họ (familia):hoa tán: ApiaceaeChi (genus): EryngiumLoài (species): E. foetidum [1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Rau ngót
Ngoài các vita-min và muối khoáng (trong 100g rau ngót có 169mg canxi, 64,5mg photpho, 185mg vitamin C... ) rau ngót còn có một lượng protit đáng kể. Tỷ lệ protit trong rau ngót nhiều gần gấp đôi rau muống và tương đương với một số loại đậu như đậu ván, đậu đũa, đậu co ve... là những thức ăn thực vật từ xưa vẫn nổi tiếng giàu chất đạm (trong 100g rau ngót có 5,3g protit, đậu ván có 2,8g, đậu co ve 5g, đậu đũa có 6g). [3]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Sắn dây
Sắn dây là loài dây leo, sống lâu năm, có thể dài tới 10 m. Rễ phát triển thành củ dài, to. Lá kép, mọc so le gồm 3 lá chét nguyên hoặc xẻ thùy. Cụm hoa hình chùm mọc so le gồm 3 lá chét nguyên hoặc xẻ thùy. Cụm hoa hình chùm mọc ở kẽ lá gồm nhiều loại hoa màu xanh tím, thơm. Quả giáp dẹt màu vàng nhạt, có lông mềm, thắt lại giữa các hạt.[1]
Rễ củ, được gọi là cát căn (葛根, nghĩa là "rễ sắn", Radix Puerariae) được dùng làm thuốc. Thông thường rễ được thu hoạch vào mùa đông, xuân. Rễ đào rửa sạch đất cát, bỏ lớp vỏ ngoài, cắt khúc hoặc thái lát, xông diêm sinh, sau đó phơi hoặc sấy khô.[1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Hoa thiên lý
Cây thiên lý có tên khoa học Telosma cordata (Bura.F) merr pergularia minorander, họ thiên lý (Asclepaadaceae). Cây leo bằng dây không có tua cuốn, hoa mọc thành chùm ở nách lá, hoa nở từ tháng 5 đến tháng 10. Là cây ưa ẩm, không chịu được úng, nếu bị khô hạn cây phát triển cằn cỗi.[2]
Theo Đông y, hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, làm ngủ ngon giấc, tư bổ tâm…[1]
Trong hoa thiên lý có 3% chất xơ, chất đạm 2,8% và còn có chất bột đường, các vitamin C, B1, B2, PP và tiền vitamin A (caroten), cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như canxi, phospho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) chứa hàm lượng khá cao.
Hoa thiên lý còn tác dụng trợ dương cho nam giới
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Kinh giới
Toàn kinh giới
Kinh giới. |
Theo sách thuốc cổ, toàn kinh giới (dùng cành lá dài không quá 40cm tính từ ngọn) 12g phối hợp với sắn dây 24g, sắc uống chữa sốt nóng, nhức đầu, đau mình. Nước sắc toàn kinh giới uống nóng với nước ép măng tre và nước cốt gừng chữa trúng phong, cấm khẩu.[1]
Theo kinh nghiệm dân gian, toàn kinh giới để tươi nấu nước uống và tắm hằng ngày để phòng chống rôm sẩy, mẩn ngứa, mụn nhọt.
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Actisô
Bông Actisô có tính bổ dưỡng khi đã nấu chín, tăng lực, kích thích, làm ăn ngon, bổ gan (tiết mật), trợ tim, lợi tiểu, chống độc, gây tiết sữa cho phụ nữ nuôi con nhỏ [1]
1. Tên thường gọi: Actisô
2. Tên khoa học: Cynara scolymus L., thuộc họ cúc - Asteraceae
3. Mô tả: Cây thân thảo cao 1-1,2 m. Thân cây có lông mềm, có khía dọc thân cây. Lá to, dài, mọc so le, phiến lá chia thuỳ ở gốc, những lá ở ngọn hầu như không chia thuỳ, mặt trên lá màu lục và mặt dưới có lông trắng. Cụm hoa ở trên các nhánh, gồm nhiều hoa hình ống và có màu lam tím. Quả nhẵn và dính với nhau thành vòng, dễ tách khi quả chín. Hạt không có nội nhũ.
Cây mọc ở vùng Carthage và các vùng Địa trung hải, trồng ở Ý và Pháp. Ở Việt nam, actisô được trồng ở Sapa, Tam Đảo, Nghệ An, Hải Hưng, Lâm Đồng.[1]
Ngày đăng : Thứ Ba, 5 tháng 4, 2011
Nhận xét : 0
A kê
A kê có tác dụng trị lỵ và sốt, chữa cảm lạnh và chảy mủ, giảm đau, chống độc, chống nôn, cũng là chất độc và kích thích v.v...[1]
1. Tên thường gọi: A kê (Akee)[1]
2. Tên khoa học: Blighia sapida Koen thuộc họ Bồ Hòn – Sapindaceae.[1]
3. Mô tả: Cây gỗ cao 12-13m, thẳng, cso tán xoè rộng và các nhánh cứng. La to mang 8 lá chét gần như mọc đối, hình bầu dục thuôn dài, dài đến 13cm, rộng 5cm, không lông, màu ôliu tươi, lúc khô gan rất lồi ở mặt dưới. Chùm hoa 1-2 ở náchlá có lông mịn, cuống hoa dài 1,5cm; lá dài 5; cánh hoa 5 màu trắng, hẹp, có một vảy to ở gốc; nhị 8; bầu 3 ô có vòi nhuỵ ngắn[1]
. Quả nang dài từ 7-10cm hình tam giác, màu vàng hay đỏ tươi, mở thành 3 mảnh: hạt 3, tròn, bóng loáng, mang áo hạt to ở gốc màu trắng, bao đến 1/2 hạt. Loài cây mọc ở Trung Phi, được nhập trồng ở Đồng Nai làm cây cảnh. [1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
