Gửi thông tin liên hệ

Khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn hoặc có bất kỳ yêu cầu nào liên quan đến các nội dung đăng tải trên Blog này, hãy điền và gửi thông tin theo mẫu bên dưới.
Tên:
Email *:
Nội dung *:

Vàng từ cây lược vàng

Cây lược vàng có tên tiếng Anh là “basket plant” (cây giỏ – vì thường được trồng trong những giỏ nhỏ để trong nhà) tên Latinh là Callisia fragrans, thuộc họ thài lài Commelinaceae. Chính nhờ thành phần các chất sinh học hiện diện trong cây có tác dụng hiệu quả trên cơ thể người, mà cây lược vàng đang được nhiều nước quan tâm nghiên cứu.

Gần như loại thảo dược nào cũng có khả năng
gây tác dụng phụ và cây lược vàng không phải là ngoại lệ.
Ảnh: Anh Duy
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ và Canada, dịch ép từ cây lược vàng rất giàu các chất kích thích sinh học có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư. Những chất này còn có khả năng chữa lành các bệnh mắt, viêm loét dạ dày tá tràng, hen suyễn, và nhiều bệnh khác nữa. Nó làm tăng quá trình biến dưỡng, làm tăng khả năng bảo vệ cơ thể và đồng thời thúc đẩy quá trình tái sinh (đổi mới) các tế bào trong cơ thể.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011

Nhận xét : 0

Hoa mười giờ

Hoa mười giờ 
Hoa mười giờ hay rau sam hoa lớn (danh pháp khoa học: Portulaca grandiflora) là một loài cây thân mọng nước, nhỏ, nhiều nhánh và lớn nhanh trong họ Rau sam (Portulacaceae). Tên gọi mười giờ là do hoa của nó thường chỉ nở từ khoảng 8/9 giờ đến 10 giờ sáng trong ngày. Là loại cây thân thảo, cao khoảng 10-15 cm. Lá hình dải hơi dẹt, dài 1,5-2 cm, mép nguyên, thân có màu hồng nhạt, lá có màu xanh nhạt [1]

Loài thực vật này có nguồn gốc Nam Mỹ, nhưng được trồng rộng rãi trong các khu vực ôn đới cũng như trong vai trò của cây trồng một năm theo luống trong vườn. Hoa sặc sỡ, với màu sắc có thể là đỏ, cam, hồng, trắng hay vàng [1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Nhận xét : 0

Su hào


Su hào (thoát âm từ Chouraves), còn gọi Rutabaga, tên khoa học Brassica napus L., tên đồng nghĩa: Brassica napobrassica (L.) Mill. Hoặc Brassica oleracea var. caulorapa. Là một cây rau cùng họ Thập tự với các loài Cải (Brassicaceae = Cruciferae). Thân thảo, rễ phát triển thành củ, có dạng tròn vụ, tròn dài (có khi đến 49 cm) hay tròn vụ bẹp, nhưng dạng trong ảnh là thường gặp nhất. Vỏ ngoài trắng hay tim tím, nạc củ trắng, vị hơi ngọt hay không vị. Hoa vàng, 4 cánh hoa xếp hình chữ thập, 6 nhị. Giác quả chứa nhiều hột. Su hào có nguồn gốc từ vùng quanh Địa Trung Hải, được du nhập vào nước ta từ thế kỷ 19, nay trồng khá phổ biến và phát triển tốt nhất tại vùng có nhiệt độ mùa đông từ -160 C đến 100 C và trồng được ở nơi có nhiệt độ mùa lạnh từ 10 – 220 C.

Su hào thường được thu hoạch khi còn non mang lá còn xanh, củ còn mềm vì khi già củ hóa xơ (do các bó mạch hóa gỗ khá nhanh).
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Nhận xét : 0

Hoa sứ: Bài thuốc không phải ai cũng dùng được.

Nhiều dược tính, nhiều màu, nhiều tên: sứ, đại,
chămpa, miễn chi, kê đảm tử... Ảnh: Việt Hùng
Trong y học cổ truyền, các bộ phận của hoa sứ (còn gọi hoa đại) đều có thể dùng làm thuốc. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể sử dụng các chế phẩm được tinh chế từ loại cây kiểng quen thuộc này.

Quốc hoa nhiều nước

Cây sứ có tên khoa học là Plumeria rubra L. var. acutifolia (Poir.) Bailey, thuộc họ trúc đào (Apocynaceae), nguồn gốc từ Trung Mỹ và Caribe, là quốc hoa của Nicaragua và Lào. Các tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là cây đại, bông sứ, chămpa; ngoài ra còn có tên miễn chi, kê đảm tử. Cây sứ ra hoa có màu từ trắng, vàng tới hồng, đỏ. Đây là loài cây bụi lớn hay cây thân gỗ nhỏ, có thể cao đến 8 – 10m, mủ trắng. Hoa thơm, nở vào mùa hè và mùa thu. Hoa chủ yếu toả hương về đêm nhằm lôi kéo các loài bướm nhân sư (họ Sphingidae) thụ phấn cho chúng. Lá mọc so le, bản to, hình bầu dục hay xoan thuôn, có mũi ngắn, không lông hoặc ít khi có lông ở mặt dưới. Hoa thường có tâm vàng, cánh hoa dày, nhuỵ nhiều dính trên ống tràng. Quả choãi ra thẳng hàng, dài khoảng 10 – 15cm. Hạt có cánh mỏng.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011

Nhận xét : 0

Lá lốt

Lá lốt có tên khoa học là Piper lolot C. DC,  họ Hồ tiêu PIPERACEAE; là loại cây thảo sống dai, cao 30 – 40cm, mọc bò, thân cành có phủ ít lông và phồng lên ở các mấu. Lá đơn nguyên mọc so le, hình tim, rộng, nhẵn, mép uốn lượn, đáy hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá chằng chịt hình mạng lưới, cuống lá có bẹ ở gốc. Cụm hoa là một bông đơn độc ở kẽ lá. Quả mọng chứa một hạt. Cây ra hoa, có quả vào mùa thu, từ tháng 8 đến 10.[1]

Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Nhận xét : 0

Rau cần

Rau cần có 2 loại cần tây và cần ta, đều rất quen thuộc với dân ta trong bữa ăn hằng ngày.

Cần tây còn gọi cần cạn (trồng đất), cần lá to, cần thơm, cần đáng, cần thuốc. Đông y gọi dược cần (cần làm thuốc), dương khổ thái. Tên khoa học Apium gaveolens.

- Cần ta còn gọi cần nước, cần lá nhỏ, cần cơm, cần canh. Tên khoa học Oenanthe stolonifera.

Từ xưa người Hy Lạp dùng cần tây làm thuốc lợi tiểu, người Ai Cập dùng cần tây chữa bệnh tim. Hyppocrate đã hướng dẫn dùng chữa rối loạn thần kinh.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Nhận xét : 0

Cúc hoa

Cúc có nhiều loại được trồng khắp thế giới. Nó là loại hoa quý tượng trưng cho Phương Đông [1]

Cúc có nhiều loại được trồng khắp thế giới. Nó là loại hoa quý tượng trưng cho Phương Đông. Nhà sư Huyền Quang (đời Trần) đã có nhiều bài thơ tôn vinh giá trị hoa Cúc. Cúc còn là loài hoa chịu thời tiết khắc nghiệt nên gọi là “Hoa bất khuất”. Còn Đào Uyên Minh đời Tần, Trung Quốc cho hoa Cúc là loài hoa thanh cao, có khí tiết tượng trưng cho tâm hồn cao thượng, tránh được cuộc đời phồn hoa, ô trọc đã hướng về mình về nơi thiên nhiên. Nó còn là biểu tượng lòng chung thủy, ý chí bất khuất, cốt cách thanh khiết của người phương Đông.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Bí đao (Bí xanh)

Ảnh: wikimedia.org
Bí đao còn có tên bí xanh (vỏ màu xanh có hoặc không có phấn). Tên Hán là đông qua. Tên khoa học là Benincasa cerifera Savi. Họ bầu bí Cucurbitaceae. [2]

Bản địa của bí đao là vùng Đông Nam Á nhưng nay phổ biến trồng khắp từ Nam Á sang Đông Á. Cây bí đao cần sức nóng mới mọc nhưng trái của nó thì chịu được nhiệt độ thấp, có thể để qua mùa đông mà không hư mặc dù dây bí đao chỉ mọc năm một, đến đông thì tàn. Lá bí đao xòe, hình bầu có lông giáp, bề ngang 10-20 cm. Hoa bí đao sắc vàng, mọc đơn.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

Nhận xét : 0

Hoa Hồng


Ảnh: wikimedia.org

Hồng hay hường là tên gọi chung cho các loài thực vật có hoa dạng cây bụi hoặc cây leo lâu năm thuộc chi Rosa, họ Rosaceae, với hơn 100 loài với màu hoa đa dạng, phân bố từ miền ôn đới đến nhiệt đới. Các loài này nổi tiếng vì hoa đẹp nên thường gọi là hoa hồng. Đa phần có nguồn gốc bản địa châu Á, số ít còn lại có nguồn gốc bản địa châu Âu, Bắc Mỹ, và Tây Bắc Phi. Các loài bản địa, giống cây trồng và cây lai ghép đều được trồng làm cảnh và lấy hương thơm. [1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

Nhận xét : 0

Quả gấc

Gấc là loài cây thân thảo dây leo thuộc chi Mướp đắng. Đây là một loại cây đơn tính khác gốc, tức là có cây cái và cây đực riêng biệt. Cây gấc leo khỏe, chiều dài có thể mọc đến 15 mét. Thân dây có tiết diện góc. Lá gấc nhẵn, thùy hình chân vịt phân ra từ 3 đến 5 dẻ, dài 8-18 cm. Hoa có hai loại: hoa cái và hoa đực. Cả hai có cánh hoa sắc vàng nhạt. Quả hình tròn, màu lá cây, khi chín chuyển sang màu đỏ cam, đường kính 15-20 cm. Vỏ gấc có gai rậm. Bổ ra mỗi quả thường có sáu múi. Thịt gấc màu đỏ cam. Hạt gấc màu nâu thẫm, hình dẹp, có khía. Gấc trổ hoa mùa hè sang mùa thu, đến mùa đông mới chín. Mỗi năm gấc chỉ thu hoạch được một mùa. Do vụ thu hoạch tương đối ngắn (vào khoảng tháng 12 hay tháng 1), nên gấc ít phổ biến hơn các loại quả khác.[2]



Gấc giàu các chất carotenoit và lycopen.[2]

Gấc có giống quả vàng và giống quả đỏ được trồng nhiều ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. [1]

Bộ phận dùng: Hạt gấc đã bóc bỏ áo hạt, phơi hay sấy khô; dầu gấc được ép từ màng hạt đã phơi hoặc sấy khô; rễ thu hái vào mùa đông rửa sạch và phơi khô. [1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

Nhận xét : 0

Ngò om


Rau om hay Ngò om - Limnophila aromatica (Lam) Merr (Ambulia aromatica Lam) thuộc họ Hoa mõm sói - Scrophulariaceae.[1]


Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm cao 15-30cm, thân mập giòn, rỗng ruột, có nhiều lông. Lá đơn, không cuống, có lông, mọc đối hoặc mọc vòng 3-5, lá mép lá hơi có răng cưa thưa, mặt dưới lá có nhiều đốm tuyến màu xanh. Hoa thường mọc đơn độc ở nách lá, không đều, cuống dài 1,5cm. Ðài hình chuông, chia 5 răng, dài 4-5mm. Tràng dài gấp đôi đài, chia 2 môi, cánh hoa màu tím nhạt. Nhị 4, chỉ nhị ngắn. Vòi nhuỵ nhẵn, đầu nhuỵ chẻ đôi. Quả nang hình trứng, không lông, nằm trong đài, chứa nhiều hạt.[1]

Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Limnophilae Aromaticae.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Ngò gai


Ngò gai hay còn gọi là cây mùi tàu, ngò tàu, ngò tây, nguyên tuy. Theo tự điển Wikipedia, cây có nguồn gốc từ châu Mỹ, nhưng rất phổ biến tại Việt Nam, từ Nam chí Bắc, người dân đã quen từ tên gọi đến cả dáng hình. Có lẽ, bởi vì đặc tính dễ thích nghi, dễ trồng, dễ bán và dễ nêm nếm trong các món ăn. [1]

Đặc điểm thực vật học:Phân loại khoa học Tên tiếng Anh: Sawtooth Coriander [1]

Tên khoa học: Eryngium foetidum (L).Giới (regnum): PlantaeNgành (divisio): MagnoliophytaLớp (class): MagnoliopsidaBộ (ordo): Apiales [1]

Họ (familia):hoa tán: ApiaceaeChi (genus): EryngiumLoài (species): E. foetidum [1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Rau ngót

Tên khoa học của rau ngót là Sauropus androgynus (L.) Merr., thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Có sách cho tên Phyllanthus elegans Wall., thuộc cùng họ.[6]
Rau ngót còn có tên bồ ngót, bù ngót, bồ ngọt, bồng ngọt. Để làm thuốc, dùng cây từ 2 năm tuổi trở lên. Theo Đông y, rau ngót tính mát lạnh (nấu chín sẽ bớt lạnh), vị ngọt, có công năng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tăng tiết nước bọt, hoạt huyết, hóa ứ, bổ huyết, cầm máu, nhuận tràng, sát khuẩn, tiêu viêm, sinh cơ. Rau ngót là thang thuốc vừa chữa bệnh vừa bồi bổ, vừa nâng đỡ chính khí vừa trừ tà khí, tăng sức đề kháng của cơ thể...[2]

Ngoài các vita-min và muối khoáng (trong 100g rau ngót có 169mg canxi, 64,5mg photpho, 185mg vitamin C... ) rau ngót còn có một lượng protit đáng kể. Tỷ lệ protit trong rau ngót nhiều gần gấp đôi rau muống và tương đương với một số loại đậu như đậu ván, đậu đũa, đậu co ve... là những thức ăn thực vật từ xưa vẫn nổi tiếng giàu chất đạm (trong 100g rau ngót có 5,3g protit, đậu ván có 2,8g, đậu co ve 5g, đậu đũa có 6g). [3]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Sắn dây





Sắn dây là loài dây leo, sống lâu năm, có thể dài tới 10 m. Rễ phát triển thành củ dài, to. Lá kép, mọc so le gồm 3 lá chét nguyên hoặc xẻ thùy. Cụm hoa hình chùm mọc so le gồm 3 lá chét nguyên hoặc xẻ thùy. Cụm hoa hình chùm mọc ở kẽ lá gồm nhiều loại hoa màu xanh tím, thơm. Quả giáp dẹt màu vàng nhạt, có lông mềm, thắt lại giữa các hạt.[1]




Rễ củ, được gọi là cát căn (葛根, nghĩa là "rễ sắn", Radix Puerariae) được dùng làm thuốc. Thông thường rễ được thu hoạch vào mùa đông, xuân. Rễ đào rửa sạch đất cát, bỏ lớp vỏ ngoài, cắt khúc hoặc thái lát, xông diêm sinh, sau đó phơi hoặc sấy khô.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Sâm đại hành


Sâm đại hành, còn gọi là Tỏi lào, Hành lào, Hành đỏ - Eleutherine bulbosa (Mill.) Urb.(E. subaphylla Gagnep.), thuộc họ Lá đơn - Iridaceae.[1]


Mô tả: Cây thảo cao 20-30cm. Thân hành (thường gọi là củ) giống củ hành nhưng dài hơn, có vẩy màu đỏ nâu. Lá hình giáo dài, gân lá song song. Hoa trắng mọc thành chùm. Quả nang, chứa nhiều hạt. [1]




Bộ phận dùng: Củ (tức thân hành) - Bulbus Eleutherines Bulbosae.[1]

Nơi sống và thu hái: Loài đặc hữu của Ðông Ðông dương, mọc hoang và thường được trồng lấy củ làm thuốc. Có thể đào lấy củ sau khi trồng 1 năm trở lên. Nếu chưa dùng ngay thì tách ra từng củ, rũ sạch đất, để nguyên cả rễ và lớp vỏ khô ở ngoài, cắt bỏ phần thân lá, để trong cát ẩm hay chỗ mát cho củ lâu khô (chỉ để được vài tháng). Nếu dùng ngay thì rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, tán bột hoặc để nguyên miếng.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Lá vông

Lá vông còn có tên khác là vông nem (vì lá được dùng để gói nem), hải đồng, thích đồng... Từ lâu, lá vông được nhân dân nhiều địa phương dùng làm thuốc an thần, chống lo âu, phiền muộn, nhức đầu, chóng mặt. Để chữa mất ngủ, người ta lấy lá vông (loại bánh tẻ) rửa sạch, luộc hoặc nấu canh ăn hằng ngày; có khi còn phối hợp với lá dâu non. Người bị huyết áp cao và trẻ em hay đổ mồ hôi trộm nên dùng.[1]

Các nghiên cứu dược lý cho thấy lá vông có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, làm yên tĩnh, gây ngủ, hạ huyết áp mà không có hiện tượng ngộ độc. Nhiều dạng thuốc có lá vông chữa mất ngủ đã được bào chế để tiện cho việc sử dụng.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Cây ngải cứu





Ngải cứu còn gọi là ngải diệp, tên khoa học là Artemisia vulgaris L. thuộc họ cúc. Quanh năm đều có ngải cứu nhưng tốt nhất là hái cành và lá vào tháng 6 (gần tương ứng với mồng 5 tháng 5 âm lịch), phơi khô trong râm mát. Có khi hái về phơi khô, tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung, dùng làm mồi cứu để kích thích huyệt trong phương pháp châm cứu. Ngải cứu có tính ôn, hơi cay, dùng điều trị đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, động thai, thổ huyết...[1]

Ngải cứu chữa bệnh




- Làm điếu ngải : lấy lá ngải cứu khô vò nát, loại bỏ cành cuống, lấy phần còn lại là ngải nhung đem cuốn thành điếu như điếu thuốc lá hay to hơn tùy theo ý định sử dụng. Điếu ngải được đốt mang tính nóng ấm cao (thuần dương), nên khi dùng để làm nóng (cứu) các huyệt gọi sẽ làm khí huyết lưu thông mạnh, gây ấm nóng cơ thể, giảm đau, sưng, mỏi cơ, tiết dịch, giải độc, làm mềm chỗ cứng và tan máu tụ. Có thể dùng điếu ngải theo mấy cách sau[1] :
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Hoa thiên lý





Cây thiên lý có tên khoa học Telosma cordata (Bura.F) merr pergularia minorander, họ thiên lý (Asclepaadaceae). Cây leo bằng dây không có tua cuốn, hoa mọc thành chùm ở nách lá, hoa nở từ tháng 5 đến tháng 10. Là cây ưa ẩm, không chịu được úng, nếu bị khô hạn cây phát triển cằn cỗi.[2]

Theo Đông y, hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, làm ngủ ngon giấc, tư bổ tâm…[1]




Trong hoa thiên lý có 3% chất xơ, chất đạm 2,8% và còn có chất bột đường, các vitamin C, B1, B2, PP và tiền vitamin A (caroten), cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như canxi, phospho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) chứa hàm lượng khá cao.




Hoa thiên lý còn tác dụng trợ dương cho nam giới
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Cỏ tranh



Cỏ tranh còn gọi là mao căn, bạch mao căn.Tên khoa học Imperata cylindrica Beauv. Rễ cỏ tranh hay bạch mao căn là thân rễ phơi hay sấy khô của cây tranh hay cỏ tranh.[1]




Mô tả cây




Cây cỏ tranh là một loại cỏ sống dai, thân rễ khỏe chắc. Thân cao 30-90cm, lá hẹp dài 15-30cm, rộng 3-6mm, gân lá ở giữa phát triển, ráp ở mặt trên, nhẵn ở mặt dưới, mép lá sắc. Cụm hoa hình chùy nhưng hinh bắp dài 5-20cm màu trắng bạc, bông nhỏ phủ đầy lông nhỏ mềm, rất dài.[1]




Thành phần hoá học




Trong thân rễ có glucoza, fuctoza và axit hữu cơ.[1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Cỏ gấu



Cỏ gấu là một loại cỏ sống lấu nǎm; lá nhỏ hẹ, ở giữa lưng có gân nổi lên, cứng và bóng, phần dưới lá ôm lấy thân cây; thân rễ phát triển thành củ; tuỳ theo đất rắn hay xốp củ phát triển to hay nhỏ. ở vùng bờ biển củ to, dài, chất lượng dược liệu tốt hơn, thường gọi là hải hương phụ (hương phụ vùng biển). Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa hình tán màu xám nâu; nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ; quả 3 cạnh màu xám.

Cỏ gấu thường mọc hoang ở đồng ruộng, ven đường, ven biển,... Đối với nhà nông, cỏ gấu là thứ rất khó tiêu trừ - chỉ cần để sót lại một mẩu than rễ nhỏ, là chẳng bao lâu đã mọc thành cây mới. Thế nhưng khi làm cỏ, nếu kết hợp thu hoạch củ gấu, thì chúng ta sẽ có được một vị thuốc quý, mà Đông y gọi là "Hương phụ". Củ gấu còn gọi là "cỏ cú". Tên khoa học là Cypẻusrotundus L; thuộc hj Cói (Cyperaccae). Còn thấy mọc những ở nước khác vùng châu á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Inđônêxia. [1]
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

- Copyright © Nhà XTV - Powered by Blogger - Redesigned by Phạm Xuân Tiến -