Gửi thông tin liên hệ
Nhãn
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây thuốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Vàng từ cây lược vàng
| Gần như loại thảo dược nào cũng có khả năng gây tác dụng phụ và cây lược vàng không phải là ngoại lệ. Ảnh: Anh Duy |
Ngày đăng : Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011
Nhận xét : 0
Hoa mười giờ
| Hoa mười giờ |
Ngày đăng : Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011
Nhận xét : 0
Su hào
Ngày đăng : Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011
Nhận xét : 0
Hoa sứ: Bài thuốc không phải ai cũng dùng được.
| Nhiều dược tính, nhiều màu, nhiều tên: sứ, đại, chămpa, miễn chi, kê đảm tử... Ảnh: Việt Hùng |
Quốc hoa nhiều nước
Ngày đăng : Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011
Nhận xét : 0
Lá lốt
Ngày đăng : Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011
Nhận xét : 0
Rau cần
Cần tây còn gọi cần cạn (trồng đất), cần lá to, cần thơm, cần đáng, cần thuốc. Đông y gọi dược cần (cần làm thuốc), dương khổ thái. Tên khoa học Apium gaveolens.
- Cần ta còn gọi cần nước, cần lá nhỏ, cần cơm, cần canh. Tên khoa học Oenanthe stolonifera.
Từ xưa người Hy Lạp dùng cần tây làm thuốc lợi tiểu, người Ai Cập dùng cần tây chữa bệnh tim. Hyppocrate đã hướng dẫn dùng chữa rối loạn thần kinh.
Ngày đăng : Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011
Nhận xét : 0
Cúc hoa
Cúc có nhiều loại được trồng khắp thế giới. Nó là loại hoa quý tượng trưng cho Phương Đông. Nhà sư Huyền Quang (đời Trần) đã có nhiều bài thơ tôn vinh giá trị hoa Cúc. Cúc còn là loài hoa chịu thời tiết khắc nghiệt nên gọi là “Hoa bất khuất”. Còn Đào Uyên Minh đời Tần, Trung Quốc cho hoa Cúc là loài hoa thanh cao, có khí tiết tượng trưng cho tâm hồn cao thượng, tránh được cuộc đời phồn hoa, ô trọc đã hướng về mình về nơi thiên nhiên. Nó còn là biểu tượng lòng chung thủy, ý chí bất khuất, cốt cách thanh khiết của người phương Đông.[1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Bí đao (Bí xanh)
| Ảnh: wikimedia.org |
Bản địa của bí đao là vùng Đông Nam Á nhưng nay phổ biến trồng khắp từ Nam Á sang Đông Á. Cây bí đao cần sức nóng mới mọc nhưng trái của nó thì chịu được nhiệt độ thấp, có thể để qua mùa đông mà không hư mặc dù dây bí đao chỉ mọc năm một, đến đông thì tàn. Lá bí đao xòe, hình bầu có lông giáp, bề ngang 10-20 cm. Hoa bí đao sắc vàng, mọc đơn.[1]
Ngày đăng : Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011
Nhận xét : 0
Hoa Hồng
| Ảnh: wikimedia.org |
Ngày đăng : Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011
Nhận xét : 0
Quả gấc
Gấc có giống quả vàng và giống quả đỏ được trồng nhiều ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. [1]
Bộ phận dùng: Hạt gấc đã bóc bỏ áo hạt, phơi hay sấy khô; dầu gấc được ép từ màng hạt đã phơi hoặc sấy khô; rễ thu hái vào mùa đông rửa sạch và phơi khô. [1]
Ngày đăng : Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011
Nhận xét : 0
Ngò om
Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm cao 15-30cm, thân mập giòn, rỗng ruột, có nhiều lông. Lá đơn, không cuống, có lông, mọc đối hoặc mọc vòng 3-5, lá mép lá hơi có răng cưa thưa, mặt dưới lá có nhiều đốm tuyến màu xanh. Hoa thường mọc đơn độc ở nách lá, không đều, cuống dài 1,5cm. Ðài hình chuông, chia 5 răng, dài 4-5mm. Tràng dài gấp đôi đài, chia 2 môi, cánh hoa màu tím nhạt. Nhị 4, chỉ nhị ngắn. Vòi nhuỵ nhẵn, đầu nhuỵ chẻ đôi. Quả nang hình trứng, không lông, nằm trong đài, chứa nhiều hạt.[1]
Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Limnophilae Aromaticae.[1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Ngò gai
Đặc điểm thực vật học:Phân loại khoa học Tên tiếng Anh: Sawtooth Coriander [1]
Tên khoa học: Eryngium foetidum (L).Giới (regnum): PlantaeNgành (divisio): MagnoliophytaLớp (class): MagnoliopsidaBộ (ordo): Apiales [1]
Họ (familia):hoa tán: ApiaceaeChi (genus): EryngiumLoài (species): E. foetidum [1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Rau ngót
Ngoài các vita-min và muối khoáng (trong 100g rau ngót có 169mg canxi, 64,5mg photpho, 185mg vitamin C... ) rau ngót còn có một lượng protit đáng kể. Tỷ lệ protit trong rau ngót nhiều gần gấp đôi rau muống và tương đương với một số loại đậu như đậu ván, đậu đũa, đậu co ve... là những thức ăn thực vật từ xưa vẫn nổi tiếng giàu chất đạm (trong 100g rau ngót có 5,3g protit, đậu ván có 2,8g, đậu co ve 5g, đậu đũa có 6g). [3]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Sắn dây
Sắn dây là loài dây leo, sống lâu năm, có thể dài tới 10 m. Rễ phát triển thành củ dài, to. Lá kép, mọc so le gồm 3 lá chét nguyên hoặc xẻ thùy. Cụm hoa hình chùm mọc so le gồm 3 lá chét nguyên hoặc xẻ thùy. Cụm hoa hình chùm mọc ở kẽ lá gồm nhiều loại hoa màu xanh tím, thơm. Quả giáp dẹt màu vàng nhạt, có lông mềm, thắt lại giữa các hạt.[1]
Rễ củ, được gọi là cát căn (葛根, nghĩa là "rễ sắn", Radix Puerariae) được dùng làm thuốc. Thông thường rễ được thu hoạch vào mùa đông, xuân. Rễ đào rửa sạch đất cát, bỏ lớp vỏ ngoài, cắt khúc hoặc thái lát, xông diêm sinh, sau đó phơi hoặc sấy khô.[1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Sâm đại hành
Sâm đại hành, còn gọi là Tỏi lào, Hành lào, Hành đỏ - Eleutherine bulbosa (Mill.) Urb.(E. subaphylla Gagnep.), thuộc họ Lá đơn - Iridaceae.[1]
Mô tả: Cây thảo cao 20-30cm. Thân hành (thường gọi là củ) giống củ hành nhưng dài hơn, có vẩy màu đỏ nâu. Lá hình giáo dài, gân lá song song. Hoa trắng mọc thành chùm. Quả nang, chứa nhiều hạt. [1]
Bộ phận dùng: Củ (tức thân hành) - Bulbus Eleutherines Bulbosae.[1]
Nơi sống và thu hái: Loài đặc hữu của Ðông Ðông dương, mọc hoang và thường được trồng lấy củ làm thuốc. Có thể đào lấy củ sau khi trồng 1 năm trở lên. Nếu chưa dùng ngay thì tách ra từng củ, rũ sạch đất, để nguyên cả rễ và lớp vỏ khô ở ngoài, cắt bỏ phần thân lá, để trong cát ẩm hay chỗ mát cho củ lâu khô (chỉ để được vài tháng). Nếu dùng ngay thì rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, tán bột hoặc để nguyên miếng.[1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Lá vông
Các nghiên cứu dược lý cho thấy lá vông có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, làm yên tĩnh, gây ngủ, hạ huyết áp mà không có hiện tượng ngộ độc. Nhiều dạng thuốc có lá vông chữa mất ngủ đã được bào chế để tiện cho việc sử dụng.[1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Cây ngải cứu
Ngải cứu còn gọi là ngải diệp, tên khoa học là Artemisia vulgaris L. thuộc họ cúc. Quanh năm đều có ngải cứu nhưng tốt nhất là hái cành và lá vào tháng 6 (gần tương ứng với mồng 5 tháng 5 âm lịch), phơi khô trong râm mát. Có khi hái về phơi khô, tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung, dùng làm mồi cứu để kích thích huyệt trong phương pháp châm cứu. Ngải cứu có tính ôn, hơi cay, dùng điều trị đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, động thai, thổ huyết...[1]
Ngải cứu chữa bệnh
- Làm điếu ngải : lấy lá ngải cứu khô vò nát, loại bỏ cành cuống, lấy phần còn lại là ngải nhung đem cuốn thành điếu như điếu thuốc lá hay to hơn tùy theo ý định sử dụng. Điếu ngải được đốt mang tính nóng ấm cao (thuần dương), nên khi dùng để làm nóng (cứu) các huyệt gọi sẽ làm khí huyết lưu thông mạnh, gây ấm nóng cơ thể, giảm đau, sưng, mỏi cơ, tiết dịch, giải độc, làm mềm chỗ cứng và tan máu tụ. Có thể dùng điếu ngải theo mấy cách sau[1] :
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Hoa thiên lý
Cây thiên lý có tên khoa học Telosma cordata (Bura.F) merr pergularia minorander, họ thiên lý (Asclepaadaceae). Cây leo bằng dây không có tua cuốn, hoa mọc thành chùm ở nách lá, hoa nở từ tháng 5 đến tháng 10. Là cây ưa ẩm, không chịu được úng, nếu bị khô hạn cây phát triển cằn cỗi.[2]
Theo Đông y, hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, làm ngủ ngon giấc, tư bổ tâm…[1]
Trong hoa thiên lý có 3% chất xơ, chất đạm 2,8% và còn có chất bột đường, các vitamin C, B1, B2, PP và tiền vitamin A (caroten), cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như canxi, phospho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) chứa hàm lượng khá cao.
Hoa thiên lý còn tác dụng trợ dương cho nam giới
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Cỏ tranh
Mô tả cây
Cây cỏ tranh là một loại cỏ sống dai, thân rễ khỏe chắc. Thân cao 30-90cm, lá hẹp dài 15-30cm, rộng 3-6mm, gân lá ở giữa phát triển, ráp ở mặt trên, nhẵn ở mặt dưới, mép lá sắc. Cụm hoa hình chùy nhưng hinh bắp dài 5-20cm màu trắng bạc, bông nhỏ phủ đầy lông nhỏ mềm, rất dài.[1]
Thành phần hoá học
Trong thân rễ có glucoza, fuctoza và axit hữu cơ.[1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0
Cỏ gấu
Cỏ gấu thường mọc hoang ở đồng ruộng, ven đường, ven biển,... Đối với nhà nông, cỏ gấu là thứ rất khó tiêu trừ - chỉ cần để sót lại một mẩu than rễ nhỏ, là chẳng bao lâu đã mọc thành cây mới. Thế nhưng khi làm cỏ, nếu kết hợp thu hoạch củ gấu, thì chúng ta sẽ có được một vị thuốc quý, mà Đông y gọi là "Hương phụ". Củ gấu còn gọi là "cỏ cú". Tên khoa học là Cypẻusrotundus L; thuộc hj Cói (Cyperaccae). Còn thấy mọc những ở nước khác vùng châu á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Inđônêxia. [1]
Ngày đăng :
Nhận xét : 0

