Gửi thông tin liên hệ

Khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn hoặc có bất kỳ yêu cầu nào liên quan đến các nội dung đăng tải trên Blog này, hãy điền và gửi thông tin theo mẫu bên dưới.
Tên:
Email *:
Nội dung *:

5 Lý do khiến bạn giảm cân không thành công

Dù đã áp dụng nhiều cách để giảm trọng lượng, nhưng rất có thể một số nguyên nhân sau chính là thủ phạm phá hỏng những nỗ lực của bạn.
Ngủ quá ít: Nếu chất lượng giấc ngủ không được đảm bảo, nội tiết tố trong cơ thể sẽ bị trục trặc, nó sẽ gây ảnh hưởng đến sự trao đổi chất và cuối cùng dẫn đến tăng cân. Các chuyên gia sức khỏe cảnh báo khi bị thiếu ngủ, thức ăn không được tiêu hóa một cách tốt nhất.

Bên cạnh đó, những người bị mất ngủ thường có thói quen ăn khuya hoặc uống cà phê. Thói quen này càng khiến mọi việc thêm tồi tệ. Đi ngủ và thức dậy đúng giờ ngay cả ngày cuối tuần là cách duy trì trọng lượng ổn định. Ngoài ra, cần lưu ý tránh uống cà phê sau 4 giờ chiều và loại bỏ điện thoại, các thiết bị công nghệ ra khỏi phòng ngủ, thay vào đó hãy để tâm trí thư giãn bằng cách đọc sách trước khi chìm vào giấc ngủ.

Chán nản: Đây là một trong những thủ phạm khiến cây kim trên bàn cân có xu hướng nhích về phía bên phải ngày càng nhiều. Hầu hết những người thất bại trong việc giảm cân thường có mối quan hệ rất “tình cảm” với thực phẩm. Khi chán nản hay buồn phiền, một số người có xu hướng ăn nhiều hơn lúc bình thường. Họ luôn có cảm giác hạnh phúc khi giải tỏa nỗi buồn bằng việc nạp thật nhiều thức ăn vào bụng. Muốn chống lại sự thèm ăn, hãy lựa chọn các món ăn nhẹ lành mạnh như trái cây, các loại hạt, yaourt...

Gặp vấn đề về tuyến giáp: Suy tuyến giáp có thể làm chậm sự trao đổi chất, và đây là nguyên nhân khiến nhiều người tăng cân. Nếu được điều trị, các kích thích tố sẽ cân bằng và trọng lượng sớm trở lại bình thường. Các triệu chứng của suy giáp bao gồm: mệt mỏi, táo bón, đau nhức, da khô, tóc yếu và cảm giác ớn lạnh. Những người không kiểm soát được cân nặng, nếu gặp một trong số những triệu chứng này, nên gặp bác sĩ để làm xét nghiệm máu.

Hội chứng buồng trứng đa nang: Phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang thường có xu hướng tăng cân không kiểm soát. Họ đề kháng với insulin, giống như những người bị bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, khác với bệnh tiểu đường, hội chứng buồng trứng đa nang gây khó khăn cho việc chuyển đổi các hoóc môn testosterone trong buồng trứng thành hoóc môn nữ estrogen. Mức độ testosterone cao trong cơ thể là nguyên nhân gây tăng cân và kháng insulin.

Ăn khuya: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người tiêu thụ calo trước khi đi ngủ 1 hoặc 2 giờ có xu hướng dễ tăng cân hơn so với những người ăn trước thời điểm đó từ 4 - 5 tiếng. Ăn cách giờ đi ngủ khoảng 1 tiếng, lượng calo sẽ chuyển thành chất béo và lưu trữ trong cơ thể. Các chuyên gia khuyến cáo tốt nhất nên ăn bữa chính vào giờ ăn trưa và sau đó ăn một bữa nhẹ nhỏ hơn vào buổi tối, ít nhất 3 giờ trước khi đi ngủ. Khả năng cơ thể tiêu hóa thức ăn giảm đi khi mặt trời lặn.

Nguồn: phapluat.com.vn
Đăng bởi : www.phạmxuântiến.vn

Ngày đăng : Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

Nhận xét : 0

Tác hại của Đường.

Các nhà khoa học đến từ New York và Kansas (Mỹ) tin rằng hàm lượng đường cao ảnh hưởng tới vùng não điều khiển thân nhiệt, làm tăng nhịp tim và huyết áp. Họ cũng cho rằng đường có thể khiến cơ thể của chúng ta sản sinh nhiều insulin, một loại hormone có thể làm tăng nhịp tim.
Tác hại của đường còn lớn hơn cả muối

Ăn nhiều đường có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh huyết áp cao


Tiến sĩ James DiNicolantonio, chuyên gia nghiên cứu tim mạch thuộc Viện nghiên cứu tim Trung Mỹ tại thành phố Kansas và người đứng đầu nhóm nghiên cứu, cho biết: “Đường chứ không phải muối có thể là nguyên nhân thực sự gây ra bệnh huyết áp cao. Kết quả này được đưa ra dựa trên phân tích các nghiên cứu quy mô lớn cho rằng đường liên quan tới huyết áp cao ở người nhiều hơn so với muối”.

Kết quả mà nhóm nghiên cứu của tiến sĩ DiNicolantonio đưa ra cũng trái ngược với các chuyên gia cho rằng giảm lượng tiêu thụ muối sẽ làm giảm tỷ lệ bệnh béo phì và tim mạch. Các nhà khoa học cũng đưa ra dẫn chứng từ một nghiên cứu gần đây với 8.670 người trưởng thành tại Pháp, cho thấy rằng không có mối liên quan nào giữ muối và bệnh huyết áp cao.

"Giảm tiêu thụ muối có thể dẫn tới tăng tiêu thụ thực phẩm chế biến có nhiều đường. Điều này làm tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, béo phì và tim mạch. Vì thế, khuyến khích người tiêu dùng hạn chế sử dụng đường thay vì muối là cách kiểm soát bệnh huyết áp cao tốt hơn”, tiến sĩ DiNicolantonio cho biết.

Tiến sĩ Aseem Malhotra, giám đốc Chiến dịch hành động về đường (Anh), cho rằng nguy cơ của đường với sức khỏe con người chưa được đánh giá đúng mức. “Chúng ta đã biết rằng đường không cung cấp bất kỳ chất dinh dưỡng nào và ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nó là nguyên nhân gây ra nhiều loại bệnh”.

Nguồn: khoahoc.com.vn
Đăng bởi : www.phạmxuântiến.vn

Ngày đăng : Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Nhận xét : 0

Người viêm khớp nên ăn gì?

Các triệu chứng chính của bệnh này bao gồm sưng, tấy đỏ và đau ở các khớp khác nhau trong cơ thể. Cường độ của cơn đau khớp có thể thay đổi theo khí hậu, mức độ hoạt động của cơ thể và thực phẩm tiêu thụ.
Chuối. Đây là thực phẩm tuyệt vời chống lại viêm khớp và các triệu chứng của viêm khớp cũng như cải thiện sức khỏe tổng thể, do nó chứa hàm lượng kali cao cần thiết cho sự hoạt động của các tế bào. Ngoài ra, chuối còn có nhiều vitamin C, vitamin B6 và folate giúp cải thiện hệ thống miễn dịch.

Dầu ô liu. Những bệnh nhân viêm khớp được khuyến cáo nên bổ sung dầu ô liu vào chế độ ăn uống. Dầu ô liu chứa chất béo không bão hòa đơn lành mạnh và không bị ô xy hóa trong cơ thể. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người tiêu thụ dầu ô liu ít có nguy cơ phát triển viêm khớp dạng thấp.

Khoai lang. Một trong những thực phẩm tuyệt vời cần có trong thực đơn của người viêm khớp là khoai lang, vốn chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn so với khoai tây. Khoai lang chứa beta - carotene, chất xơ hòa tan cùng nhiều khoáng chất. Ngoài ra, khoai lang cũng phong phú vitamin C và anthocyanin. Nhiều nghiên cứu phát hiện rằng vitamin C giúp cải thiện khả năng miễn dịch và anthocyanin làm giảm viêm ở các khớp.

Trà xanh. Cung cấp nhiều lợi ích cho sức khỏe do chứa hàm lượng chất chống ô xy hóa cao. Chất chống ô xy hóa phát huy hiệu quả trong việc giảm đau do viêm khớp. Epigallocatechin gallate (EGCG) có trong trà xanh chính là vũ khí chống lại các cơn đau khớp.

Ớt chuông. Rất giàu vitamin C, giúp giảm viêm và tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể chống lại nhiễm trùng. Chất chống ô xy hóa có trong ớt chuông ngăn chặn sự hình thành các gốc tự do trong cơ thể - nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe. Chất capsaicin trong ớt chuông còn được biết đến với tác dụng cải thiện việc cung cấp máu cho các khớp và giảm viêm. Ngoài ra, ớt chuông còn có công dụng trong việc hình thành collagen giúp duy trì làn da và cơ bắp khỏe mạnh.

Ngũ cốc nguyên hạt. Các loại ngũ cốc có khả năng giảm viêm trong cơ thể. Ngũ cốc cũng là nguồn giàu chất xơ và các chất dinh dưỡng khác.

Các loại hạt. Hạt lanh, hạt hướng dương, quả óc chó, hạnh nhân... cung cấp chất béo lành mạnh cho cơ thể. Đây là nguồn thực phẩm giàu chất chống ô xy hóa, a xít béo omega 3, vitamin E thiết yếu cho sức khỏe. Những dưỡng chất này có tác dụng chống viêm rất hiệu quả.

Xoài. Do chứa chất ô xy hóa cao nên xoài cũng có tác dụng giảm viêm rất tốt. Xoài chín còn là nguồn cung cấp beta - carotene dồi dào và nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra beta - carotene có công dụng ngăn ngừa viêm khớp ở cấp độ nặng.

Táo. Loại trái cây này giàu vitamin và chất sắt. Sắt rất hữu ích trong việc hình thành hemoglobin trong máu, giúp cải thiện quá trình lưu thông ô xy trong máu. Táo cũng được khuyến cáo tiêu thụ khi muốn giảm cân và làm giảm sự căng thẳng ở các khớp xương.

Tôm. Tôm và các loại động vật có vỏ khác chứa ít chất béo bão hòa và cung cấp nhiều chất dinh dưỡng. Các a xít béo omega 3 được tìm thấy trong hải sản có tác dụng làm giảm các triệu chứng viêm khớp. Ngoài ra, động vật có vỏ và tôm rất giàu vitamin và các khoáng chất như: selen, sắt, kẽm, vitamin B12, niacin. Selen giúp giảm viêm khớp rất hiệu quả.

Cá hồi. Là một trong những nguồn cung cấp a xít béo omega 3 dồi dào nên cá hồi luôn được khuyến cáo bổ sung vào thực đơn ở những bệnh nhân viêm khớp.

Cải bó xôi. Do chứa nhiều can xi, chất xơ và đặc biệt là hợp chất flavonoid có tác dụng chống viêm hữu hiệu, nên cải bó xôi là thực phẩm tuyệt vời cho người viêm khớp. Hơn nữa, lượng vitamin K dồi dào trong loại rau màu xanh thẫm này còn giúp duy trì sức khỏe của xương.

Củ cải đường. Đây là lựa chọn tốt cho những người bị viêm khớp do nó chứa một chất chống ô xy hóa đặc biệt gọi là betalain, giúp ngăn chặn việc hình thành các gốc tự do trong cơ thể. Ngoài ra, kali, magiê, phốt pho, sắt, chất xơ, a xít folic, vitamin A, B và C, beta - carotene... cũng được tìm thấy trong củ cải đường.

Cà chua. Lycopene có trong cà chua chính là vũ khí lợi hại giúp chống lại những cơn đau khớp.

Đậu nành. Là nguồn cung cấp protein và chất sắt dồi dào, đậu nành có tác dụng giảm viêm và đau rất hiệu quả. Ngoài ra, thực phẩm này còn có thể làm giảm nguy cơ loãng xương ở phụ nữ.

Nguồn: thanhnien.com.vn
Đăng bởi : www.phạmxuântiến.vn

Ngày đăng : Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

Nhận xét : 0

8 lý do bạn nên ăn khoai lang

Khoai lang giờ đây trở thành đặc sản đối với nhiều người không chỉ vì sở thích mà nó còn đem lại rất nhiều lợi ích về sức khỏe. Một nguồn cung cấp dinh dưỡng dồi dào với các loại vitamin và khoáng chất cần thiết.

1. Chống oxi hóa


Khoai lang có rất nhiều chất chống oxy hóa mạnh. Chất anthocyanin có trong khoai lang tím là một trong những chất chống oxy hóa tốt nhất, ngoài ra nó còn có đặc tính chống viêm và phòng tránh nhiều bệnh tật cho cơ thể.

2. Chứa hàm lượng mangan cao


Một củ khoai lang trung bình có chứa 28% nhu cầu mangan hàng ngày. Đây là một khoáng chất quan trọng giúp cơ thể chuyển hóa tinh bột và khiến bạn cảm thấy tràn đầy sinh lực hơn.

Mangan giúp cơ thể hấp thu các chất dinh dưỡng thiết yếu khác và giữ cho xương chắc khỏe.

3. Giàu beta caroten


Khoai lang rất giàu beta caroten. Một củ khoai lang cỡ vừa thường chứa hơn 200% nhu cầu beta carotene hằng ngày.

Chắc hẳn bạn đã biết beta caroten là một chất dinh dưỡng quan trọng mà cơ thể chuyển đổi thành vitamin A để giữ cho đôi mắt sáng khỏe và tăng cường hệ thống miễn dịch một cách tự nhiên.

4. Tốt cho người dị ứng


Khoai lang chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng trong đó có quercetin. Quercetin là một chất flavonoid chính trong chế độ ăn uống để có được một cơ thể khỏe mạnh. Nó giữ mức độ cholesterol LDL ở mức thấp và làm giảm viêm.

Hơn nữa, nó còn hoạt động như một thuốc kháng histamine tự nhiên để chống lại di ứng, hỗ trợ cho những người bị dị ứng theo mùa hoặc mãn tính.

5. Giúp kiểm soát lượng đường trong máu


Mặc dù khoai lang có chứa carbohydrate nhưng nó giúp kiểm soát lượng đường trong máu rất tốt. Vì khoai lang làm tăng nồng độ adiponectin trong máu, thay đổi sự trao đổi chất của insulin giúp kiểm soát lượng đường trong cơ thể.

Khoai lang cũng rất giàu chất xơ nên nó làm chậm lại quá trình chuyển hóa glucose vào máu giúp ngăn chặn sự tăng lên đột biến lượng đường trong máu.

6. Tốt cho tim


Nó là một nguồn dinh dưỡng tuyệt vời của kali và vitamin B6. Hai chất dinh dưỡng cần thiết có lợi cho trái tim của bạn.

Kali giúp ngăn ngừa huyết áp cao và vitamin B6 giúp phá vỡ homocysteine - một chất gây ra xơ cứng động mạnh và dẫn đến các bệnh về tim mạch.

7. Rất giàu vitamin C


Khi nói đến vitamin C, chúng ta thường nghĩ đến các loại trái cây họ cam quýt đầu tiên. Tuy nhiên, trong khoai lang cũng chứa rất nhiều vitamin C.

Một củ khoai lang cỡ trung bình chứa khoảng 40% nhu cầu về vitamin C của cơ thể.

Nó thúc đẩy việc sản xuất collagen giữ cho các khớp và làn da của bạn khỏe mạnh hơn. Thêm vào đó, khoai lang còn có ích trong việc đối phó với sự căng thẳng, stress hàng ngày.

8. Khoai lang có chứa vitamin D


Vitamin D rất cần thiết cho hệ miễn dịch và sức khỏe tổng thể. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng, giúp cải thiện tâm trạng và xây dựng hệ xương vững chắc. Nó cũng rất tốt cho tim, làn da và hàm răng.

Ăn khoai lang thường xuyên cũng là cách bổ sung vitamin D.

Khoai lang là một món ăn vặt tuyệt vời với nhiều lợi ích cho sức khỏe. Tại sao bạn lại không thêm chúng vào thực đơn ăn uống hàng ngày của mình nhỉ?

Nguồn: khoahoc.com.vn
Đăng bởi : www.phạmxuântiến.vn

Ngày đăng : Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

Nhận xét : 0

Ăn ít tinh bột bảo vệ tim

Cắt giảm lượng bột đường là phương pháp phổ biến để giảm cân, và câu hỏi được đặt ra ở đây là liệu chế độ ăn này đồng thời có thể tăng cường sức khỏe tim mạch hay không.
Ăn ít tinh bột bảo vệ tim
Trong cuộc nghiên cứu mới do Đại học Tulane (Mỹ) thực hiện, con người có thể giảm cân và giảm luôn nguy cơ mắc bệnh tim mạch với chế độ ăn ít chất bột đường, theo Reuters.

Tổng cộng có 148 người tham gia cuộc khảo sát, với độ tuổi trung bình là 47, và được xác định béo phì nhưng không mắc bệnh tim mạch hoặc tiểu đường.

Họ được phân chia một cách ngẫu nhiên thành 2 nhóm, trong đó một nhóm theo chế độ ăn ít bột đường (không hơn 40g tinh bột mỗi ngày), hoặc nhóm ăn ít chất béo (dưới 30% lượng calorie mỗi ngày đến từ chất béo).

Sau một năm, nhóm ăn ít chất bột đường giảm trung bình 5,4 kg, nhiều hơn so với nhóm còn lại chỉ sụt chưa đến 2 kg, theo báo cáo đăng trên chuyên san Annals of Internal Medicine.

Đồng thời, nhóm hạn chế thức ăn bột đường cũng giảm được những nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chẳng hạn giảm mỡ trong cơ thể, tỉ lệ tổng cholesterol so với HDL-cholesterol thấp hơn, cũng như chỉ số triglyceride giảm so với lúc vừa tham gia.

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn
Đăng bởi : www.phạmxuântiến.vn

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

8 lợi ích tuyệt vời của lạc với sức khỏe


1. Lạc giúp giữ mức cholesterol trong vòng kiểm soát

Lạc rất giàu axit béo không bão hòa đơn, giúp giảm mức độ cholesterol xấu trong cơ thể, từ đó ngăn ngừa nguy cơ tim và bệnh mạch vành. Những hạt lạc tự nhiên thơm ngon nên được đưa vào kế hoạch chế độ ăn uống hàng ngày.

2. Hỗ trợ ngăn ngừa nếp nhăn

Có thể bạn chưa biết, lạc cũng rất tốt cho da vì nó giàu vitamin E, giúp làm giảm nếp nhăn trên da. Ăn lạc luộc được nghiên cứu giúp bảo vệ da khỏi các gốc tự do.
8 lợi ích tuyệt vời của lạc với sức khỏe
Những hạt lạc là bạn đồng hành với sức khỏe. (Ảnh: BBC UK)

3. Giúp giảm lượng đường trong máu

Bệnh nhân gặp vấn đề về bệnh tiểu đường vẫn có thể dùng lạc như một món ăn thân thiện. Lạc giàu nguồn mangan, giúp hấp thụ chất béo, do đó điều tiết lượng đường trong máu.

4. Hiệu quả trong việc giảm trầm cảm

Lạc giàu tryptophan, giúp giải phóng một hóa chất đặc biệt làm giảm các dấu hiệu trầm cảm, giúp tâm trạng khởi sắc hơn. Lần sau nếu bạn cảm thấy ảm đạm, chỉ cần nhâm nhi vài hạt lạc thơm bùi.

5. Giàu năng lượng

Lạc là nguồn cung cấp năng lượng tức thời cho cơ thể vì chúng rất giàu chất chống oxy hóa và khoáng chất. Bạn không cần lo ngại về cân nặng khi nhâm nhi loại hạt này. Bởi lạc cũng phù hợp cho giảm cân, đơn giản vì nó không chứa nhiều tinh bột và chất béo so với các loại hạt khác.

6. Hỗ trợ ngăn ngừa bệnh ung thư khác nhau

Lạc chứa p-coumaric acid, giúp giảm nguy cơ ung thư dạ dày. Nó cũng có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết ở phụ nữ lên đến 40%. Đưa lạc hạt hay bơ đậu phộng vào kế hoạch ăn uống mỗi ngày chừng mực là cách hỗ trợ toàn diện cho sức khỏe.
8 lợi ích tuyệt vời của lạc với sức khỏe
Bơ lạc ăn kèm bánh mì cho bữa sáng giàu năng lượng. (Ảnh: Discovermagazine)

7. Có lợi cho tóc

Nghiên cứu chỉ ra lạc rất giàu axit béo Omega 3, giúp thúc đẩy sự phát triển tóc khỏe mạnh. Lạc giàu vitamin E, giúp giảm thiểu vấn đề thưa tóc ở phụ nữ.

8. Làm giảm nguy cơ sỏi mật

Lạc ở dạng hạt hoặc bơ lạc tự nhiên có thể làm giảm nguy cơ bị sỏi túi mật trong cơ thể. Nó cũng ngăn ngừa chống lại nhiều bệnh nhiễm trùng túi mật và gan khác lên đến 25%. Sử dụng bơ lạc trong bữa ăn sáng của bạn để có năng lượng dồi dào.

Nguồn: khoahoc.com.vn
Đăng bởi : www.phạmxuântiến.vn

Ngày đăng : Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Nhận xét : 0

1.6 triệu người chết mỗi năm do ăn mặn!


Các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận trên sau khi tiến hành phân tích hơn 205 cuộc khảo sát về việc hấp thu natri (muối) ở những quốc gia đại diện cho gần 3/4 dân số trưởng thành của thế giới.

Các ảnh hưởng của natri đối với áp huyết và nguy cơ mắc bệnh tim mạch đã được xác định trong một nghiên cứu riêng rẽ khác.

Ăn mặn giết chết 1,6 triệu dân thế giới mỗi năm
Tính trung bình, mỗi người dân trên thế giới đang hấp thu lượng muối gần gấp đôi mức khuyến nghị mỗi ngày của WHO. (Ảnh: Alamy)

Nhóm nghiên cứu phát hiện, lượng natri hấp thu trung bình của mỗi người năm 2010 là 3,95 gram/ngày, gần gấp đôi mức 2 gram theo khuyến nghị của WHO. Các chuyên gia tính toán được rằng, tổng cộng có 1,65 triệu trường hợp tử vong mỗi năm do ăn mặn hơn ngưỡng khuyến cáo của WHO.

Tiến sĩ Dariush Mozaffarian, người đứng đầu nghiên cứu đến từ Đại học Tufts (Mỹ), giải thích: "Hấp thu lượng lớn natri đã được chứng minh làm tăng áp huyết, một yếu tố nguy cơ chính đối với các bệnh về tim mạch, kể cả bệnh tim và đột quỵ. 1,65 triệu người chết tương đương gần 1/10 tổng số ca tử vong trên toàn thế giới bắt nguồn từ nguyên nhân tim mạch. Không có khu vực nào trên thế giới và chẳng có mấy quốc gia tránh khỏi vấn nạn này".

Muối được sử dụng trong nấu ăn, tẩm ướp thực phẩm hay các sản phẩm chế biến, tất nhiên vẫn là nguồn cung cấp natri lớn nhất trong chế độ dinh dưỡng của chúng ta.

Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí New England Journal of Medicine, người dân Mỹ hấp thu trung bình 3,6 gram natri/ngày. Trong khi đó, tỉ lệ hấp thu này trên khắp thế giới rất khác nhau, từ 2,18 gram/ngày ở vùng hạ Sahara của châu Phi tới 5,51 gram/ngày ở Trung Á.

Đồng tác giả nghiên cứu mới, chuyên gia John Powles đến từ Đại học Cambridge (Anh), nhấn mạnh, ông và các cộng sự đã khám phá ra rằng, 4/5 số ca tử vong trên toàn cầu có thể quy cho việc ăn mặn hơn khuyến cáo ở những nước có thu nhập thấp và trung bình. Các chương trình nhằm giảm lượng hấp thu natri, do đó, có thể mang tới một giải pháp thiết thực và tiết kiệm, giúp giảm số trường hợp chết sớm ở người trưởng thành trên thế giới.

Nguồn: khoahoc.com.vn
Đăng bởi : www.phạmxuântiến.vn

Ngày đăng : Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

Nhận xét : 0

Ăn ít muối cũng có hại cho sức khỏe

Sau khi tiến hành theo dõi hàng nghìn người trong gần bốn năm, các nhà khoa học đã nhận thấy những người ăn một lượng muối khoảng 3-6g/ngày sẽ ít có nguy cơ gặp phải các vấn đề về tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc suy tim hơn những người ăn quá ít hoặc quá nhiều muối.

"Nghiên cứu của chúng tôi tìm hiểu về mức độ natri tối ưu cho cơ thể người trên quy mô toàn cầu, và chúng tôi đã nhận thấy rằng việc sử dụng muối vừa phải là cách để ta có được một cơ thể khỏe mạnh" – phát biểu của trưởng nhóm nghiên cứu, giáo sư Andrew Mente của trường Đại học McMaster ở bang Ontario, Canada.
Ăn quá ít muối cũng có hại cho sức khỏe
Theo nghiên cứu này, trung bình một người trưởng thành ở Mỹ hiện tiêu thụ khoảng 3,4g muối ăn mỗi ngày. Tuy nhiên, hướng dẫn chế độ ăn hiện tại của chính phủ Mỹ lại khuyên người dân nên giảm tối đa lượng muối sử dụng hàng ngày. Theo đó, những người có độ tuổi từ 14 đến 50 nên giới hạn lượng muối hấp thụ vào khoảng 2,3g/ngày, và những người từ 51 tuổi trở lên, cũng như nhóm người có nguy cơ bị bệnh tim cao (người bị áp huyết cao, tiểu đường hoặc bệnh về thận) nên giảm lượng muối hấp thụ xuống còn 1,5g/ngày.

"Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hướng dẫn chế độ ăn hiện tại cần phải được điều chỉnh" – giáo sư Mente nói. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng vì nó được thực hiện trên quy mô lớn, và tìm hiểu về ảnh hưởng lâu dài của muối đến sức khỏe con người. Kết quả của nó đã chỉ ra rằng hiện đang có rất ít người Mỹ – chỉ 4% số người tham gia – có lượng muối sử dụng nằm trong giới hạn của hướng dẫn chế độ ăn của chính phủ.

Cân nhắc lại vai trò của muối

Để thu được kết quả như trên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá sức khỏe của gần 102.000 người có độ tuổi từ 35 đến 70 ở 17 nước khác nhau, từ những nước phát triển cho tới những quốc gia có thu nhập thấp. Hầu hết những người tham gia đều không có tiền sử về bệnh tim, nên kết quả thu được đại diện cho phần lớn dân số thế giới, chứ không chỉ đại diện cho những người có nguy cơ cao bị các bệnh về tim mạch. Báo cáo về vấn đề này đã được công bố trên trang web The New England Journal of Medicine vào ngày 14/8 vừa qua.

Mỗi một tình nguyện viên cung cấp một mẫu nước tiểu của họ vào mỗi sáng để các nhà nghiên cứu tính toán nồng độ natri và kali được bài tiết trong vòng 24 giờ của mỗi người, một bằng chứng đáng tin cậy để tính toán mức độ hấp thụ hai chất này của mỗi người.
Ăn quá ít muối cũng có hại cho sức khỏe

Kết quả cho thấy, mặc dù những người sử dụng quá nhiều muối có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, nhưng cũng có bằng chứng chỉ ra rằng việc sử dụng quá ít muối cũng dẫn đến những hệ lụy cho sức khỏe. Một vài nghiên cứu khác gần đây cũng cho thấy mối liên kết giữa chế độ ăn nghèo muối và sự gia tăng của nguy cơ về các bệnh tim mạch. Vì vậy chúng ta sẽ cần tới những nghiên cứu chuyên sâu hơn để giải thích tại sao sự tăng lên của các vấn đề về sức khỏe lại song hành với sự sụt giảm lượng muối được hấp thụ.

Dữ liệu cũng chỉ ra rằng những người có chế độ ăn với hơn 1,5g muối kali trên một ngày ít có khả năng gặp phải vấn đề về tim hơn những người ăn ít loại muối này. Kali có khả năng giảm thiểu ảnh hưởng của muối natri đến huyết áp – giáo sư Mente cho biết – và ông cũng nghĩ rằng việc sử dụng nhiều muối kali hơn cũng có thể tạo nên một chế độ ăn hợp lý, bởi trong hoa quả và rau củ chứa rất nhiều loại muối này.

Về ứng dụng thực tế của nghiên cứu này, giáo sư Mente cho biết nếu bạn đang ăn quá nhiều muối natri (hơn 6g/ngày) hoặc bị huyết áp cao, thì tốt nhất là nên giảm lượng muối cho vào thức ăn cũng như hạn chế sử dụng thực phẩm chế biến sẵn như thịt muối, xúc xích hay các loại đồ hộp. Nhưng những người đang tiêu thụ một lượng muối vừa phải (khoảng 3–6g muối/ngày) có thể sẽ không cần phải cắt giảm muối trong bữa ăn, vì thậm chí làm như vậy có thể tăng nguy cơ bị bệnh tim.

Một cuộc thử nghiệm lâm sàng lớn là cần thiết để có thể so sánh chính xác sức khỏe của nhóm người ăn ít muối với nhóm sử dụng vừa đủ. Nhưng trong khi chờ đợi kết quả, thì "Để có một trái tim khỏe và sống lâu, thay vì chỉ tập trung vào chế độ dinh dưỡng, như hạn chế lượng muối ăn, thì chúng ta nên chăm chỉ tập thể dục, ăn uống điều độ và không hút thuốc" – giáo sư Mente nói.

Nguồn: khoahoc.com.vn
Đăng bởi : www.phạmxuântiến.vn

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

Dinh dưỡng cho con - có thể mẹ chưa biết!

Theo kết quả của Khảo sát Tình trạng Dinh dưỡng Khu vực Đông Nam Á (SEANUTS) năm 2011, có tới 2/3 trẻ tại khu vực này bị thiếu hụt dinh dưỡng. 

Trước thực trạng này, bác sỹ Nguyễn Thị Hoa – Phó Hội trưởng Hội Dinh dưỡng – Thực phẩm TP. HCM - chia sẻ cho mẹ nhiều kiến thức bổ ích trong việc chăm sóc dinh dưỡng cho con.
Bác sỹ Nguyễn Thị Hoa - Phó Hội trưởng Hội Dinh dưỡng – Thực phẩm TPHCM.
Bác sỹ Nguyễn Thị Hoa - Phó Hội trưởng Hội Dinh dưỡng – Thực phẩm TPHCM.

Nguyên nhân gây thiếu chất

Đăng bởi : www.phạmxuântiến.vn

Ngày đăng : Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

Nhận xét : 0

Cải bắp: món ăn bổ, bài thuốc hay

Cải bắp có nhiều loại: cải bắp trắng, cải bắp đỏ, su hào, cải hoa… Đây là loại rau rẻ tiền, dễ mua, dễ kiếm, thường được chế biến thành các món luộc, xào, nấu canh, trộn gỏi, muối dưa… cho bữa ăn hàng ngày. Ít ai biết cải bắp không chỉ là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng mà còn là vị thuốc chữa được nhiều bệnh trong y học cổ truyền [1].
Nguồn: wikipedia.org


Giá trị dinh dưỡng và dược tính [1]

Cải bắp, bắp cải hay sú, tên khoa học là Brassica oleracea L.var.capitata L, thuộc họ cải (Brassicaceae), là loại rau ôn đới được nhập vào trồng ở nước ta từ lâu tại một số tỉnh phía Bắc – Đà Lạt, các huyện ngoại thành TP.HCM và vùng đồng bằng sông Cửu Long… 

Người ta đã xác định trong cải bắp tươi có: 90g% nước, 1,8g% protid, 5,4g% glucid, 1,6g% cellulose, 1,2g% chất trơ. Cải bắp cũng giàu về muối khoáng, nhất là canxi (48mg%), phốtpho (31mg%). Lượng vitamin C trong cải bắp chỉ thua cà chua, nhưng nhiều gấp 4,5 lần càrốt; 3,6 lần khoai tây, hành tây! 

Cải bắp được dùng làm thuốc ở châu Âu từ thời thượng cổ. Ngày nay người ta biết nhiều hơn về tác dụng chữa bệnh của loại rau này như: có thể dùng làm thuốc trị giun; đắp ngoài làm thuốc tẩy uế và làm liền sẹo các vết thương, mụn nhọt, các vết thương ác tính, đồng thời là loại thuốc trị sâu bọ tốt (ong, nhện…) Nó còn được dùng làm thuốc giảm đau trong bệnh thấp khớp, thống phong, đau thần kinh hông (lấy lá cải bắp ủi cho mềm, sau đó đắp lên các phần bị đau); giúp làm sạch đường hô hấp bằng cách dùng đắp (trị viêm họng khàn tiếng), hoặc uống trong (chữa ho, viêm sưng phổi). Cải bắp cũng là thuốc chống hoại huyết, trị lỵ và là nguồn cung cấp lưu huỳnh cho cơ thể. Nước sắc bắp cải dùng để lọc máu. Đặc biệt cải bắp còn là vị thuốc chống kích thích thần kinh và chứng mất ngủ rất tốt. Những người hay lo âu, học sinh sắp đi thi, người bị suy nhược thần kinh, mệt mỏi liên miên nên dùng cải bắp thường xuyên. 


Nước cải bắp giúp khoẻ dạ dày [1]


Người ta còn sử dụng cải bắp để chữa đau dạ dày, xuất phát từ thông tin vào năm 1948, các nhà khoa học đã phát hiện trong cải bắp có một chất chống loét gọi là vitamin U, giúp chữa loét dạ dày – tá tràng, viêm dạ dày – ruột, viêm đại tràng. Do vitamin U bị huỷ ở nhiệt độ cao, nên dùng nước ép cải bắp tươi nếu muốn phát huy tác dụng này. 

Một ký lá cải bắp tươi sẽ cho 500 – 700ml nước ép, nếu giã tươi lấy nước cốt thì được 350 – 500ml. Dùng nước ép hoặc nước cốt cải bắp uống trong ngày với liều 1.000ml, chia làm 4 – 5 lần (có thể pha thêm đường hay muối, dùng nóng hay lạnh). Điều trị liền trong vòng hai tháng, sẽ có kết quả rõ rệt đối với bệnh nhân có ổ loét chưa sâu lắm. 

Các loại cải khác như cải rổ (var.viridis L), cải bẹ dúng (var.sabauda.), súp lơ, cải hoa (var.botrytis L)… đều có tác dụng chữa bệnh như cải bắp.



Món ngon từ cải bắp

Canh chua bắp cải [2]

Nguyên liệu:

- 1/2 bắp cải vừa ăn
- 200gr tôm còn nguyên vỏ
- 1 vắt me chua
- Ngò gai (mùi tàu)
- Muối
- Nước mắm
- Hạt nêm.

Cách thực hiện:

1- Bắp cải dùng dao thái sợi mỏng, ngâm bắp cải vào thố nước lạnh có pha một chút muối, ngâm khoảng 15 phút.
Sau đó rửa lại cho thật sạch, để lên rổ cho ráo nước.

2- Tôm bóc bỏ vỏ, rút chỉ đen trên lưng cho thật sạch, gĩa thô tôm, ở đây mình dùng tôm có gạch, nên mình giã chung đầu tôm để tạo màu đẹp.

3- Ngò gai rửa sạch, thái nhỏ. Me lấy ra bát, thêm một ít nước sôi, dầm tan rồi lọc bỏ hột, giữ lại nước cốt. Xào tôm khoảng 3 phút, châm nước lạnh vào nồi, thêm nước cốt me, đun sôi.

4- Đun đến khi nồi canh sôi, bạn cho bắp cải vào đun cùng, nêm vào 2 thìa nhỏ muối, 1 thìa nhỏ nước mắm, nửa thìa nhỏ hạt nêm, đun đến khi bắp cải mềm, nêm nếm lại tùy theo khẩu vị của bạn, tắt bếp. Rắc hành lá, mùi tàu vào.

5- Bạn cho ra bát làm món canh ăn cùng với cơm. Đơn giản, dễ ăn là bốn từ miêu tả về món ăn này, bắp cải giòn, ngọt, nấu cùng với tôm, nước canh hơi chua chua, ngọt ngọt dùng làm món canh ăn với cơm rất ngon.


Dưa bắp cải [2]

Nguyên liệu:
- 1 bắp cải thật xanh, tươi
- Lọ, hũ thủy tinh dung tích khoảng 5 – 7 lít, miệng rộng, có nắp đậy, rửa sạch, để ráo. Vài nan tre mỏng hoặc dĩa sứ nặng có thể bỏ lọt vào hũ.
- 1 bó rau cần
- 1 bó rau răm
- 1 củ tỏi.


Cách thực hiện: 

Bước 1:
- Bắp cải gỡ từng lá, rửa sạch, xắt sợi, để ráo.
- Rau cần rửa sạch, cắt khúc.
- Tỏi giã dập.
- Rau răm rửa sạch, cắt vừa.

Bước 2:
Nấu sôi 2 lít nước với 50gr muối bột, 100gr đường, 1/2 chén giấm. Nấu tan muối, đường rồi để mở vung cho mùi dấm bay hơi bớt, nước nguội bớt nhưng vẫn còn nóng già. Mình dùng giấm táo nên nước hơi có màu đỏ một chút.

Bước 3:
Trộn đều bắp cải, rau cần, rau răm, tỏi rồi cho vào lọ thủy tinh, nén nhẹ nhàng, đừng nén chặt quá nước muối sẽ khó thấm đều vào dưa. Gài vài nan tre ngang mặt dưa sao cho khi châm nước vào dưa sẽ không nổi lên trên; bạn cũng có thể dùng một dĩa sứ nặng đè trên mặt dưa.

Bước 4:
Châm hỗn hợp nước giấm còn nóng già vào hũ dưa, dưa sẽ dịu xuống nhanh, bạn đậy kín hũ dưa lại, cất nơi thoáng mát. Để qua một ngày là dưa bắt đầu chua, ngày thứ hai dưa vẫn còn nồng nhưng có thể dùng ăn kèm vài món ăn tùy khẩu vị.

Mỗi khi lấy dưa ra ăn, luôn nhấn chìm phần dưa còn lại trong hũ dưới mặt nước muối.

Sau khi ăn hết dưa, nếu muốn làm ngày một hũ khác thì bạn giữ lại một ít nước muối cũ, sau khi làm hũ dưa mới và châm nước muối mới vào thì cho thêm chừng 1 chén nước muối cũ, thời gian dưa chua sẽ nhanh hơn.

Dưa bắp cải là món ăn khá quen thuộc trong nhiều gia đình Việt mỗi khi mùa đông về, cũng là mùa bắp cải ở miền Bắc. Dưa bắp cải dễ làm và cũng dễ ăn, bạn có thể dùng ăn kèm các món thịt, cá kho, chiên... hay xào hoặc rang cơm ăn cũng rất ngon.


Bắp cải cuộn thịt hấp [3]


Nguyên liệu:

- Thịt lợn thăn: 200 g
- Bắp cải: 1 cái nhỏ
- Nấm hương: 10 cái
- Cà rốt: ½ củ
- Hành tây: ½ củ
- Hành hoa: 1 mớ nhỏ
- Mùi tàu
- Gia vị: các loại

Cách làm:

Bước 1: Cà rốt, hành tây rửa sạch bào sợi, rau mùi thái nhỏ. Mộc nhĩ ngâm nở thái nhỏ. 

Bước 2: Thịt lợn rửa sạch qua nước muối loãng rồi thái mỏng, băm nhỏ rồi cho vào bát tô.

Bước 3: Cho hỗn hợp cà rốt, hành tây, mùi tàu và nấm hương vào bát.

Bước 4: Nêm một chút gia vị và trộn đều.

Bước 5: Bắp cải, hành lá rửa sạch, để ráo nước.

Bước 6: Đặt nồi nước lên bếp đun sôi rồi trần qua hành hoa và bắp cải.

Bước 7: Đặt nhân thịt vào lá bắp cải rồi cuộn tròn như nem, dùng hành hoa buộc lại cho vào xửng hấp cách thủy.

Bước 8: Khoảng 20 phút khi bắp cải cuộn thịt chín mềm, gắp ra đĩa rồi ăn nóng chấm với tương ớt.


TIÊU CHUẨN NGÀNH HẠT GIỐNG CẢI BẮP - YÊU CẦU KỸ THUẬT



KỸ THUẬT TRỒNG CẢI BẮP



Nguồn:

[1] Đăng tải trên sgtt.vn GS.TS Võ Văn Chi,  Chuyên gia cây thuốc Việt Nam; nguyên giảng viên đại học Y dược TP.HCM.
[2] monngonviet.net
[3] eva.vn
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013

Nhận xét : 0

Những thực phẩm tốt nhất cho sự phát triển của thai nhi

Đây là những loại "siêu" thực phẩm, được cho là tốt nhất cho thai kỳ, giúp em bé của bạn phát triển khoẻ mạnh ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Nếu bạn đang mang bầu, hãy chịu khó ăn đầy đủ những thực phẩm này trong thực đơn hàng tuần nhé.



Các loại cây họ đậu

Chúng không chỉ là "siêu" thực phẩm chứa cực kỳ nhiều folate, chất xơ và protein – những dưỡng chất quan trọng cho thai kỳ, các loại cây họ đậu còn là thực phẩm có hàm lượng chất béo cực ít.

Các loại ngũ cốc

Tất cả các loại ngũ cốc như gạo, kê, ngô, lúa mì, đại mạch, yến mạch… đều "nổi tiếng" vì chứa nhiều dưỡng chất. Đầu tiên phải kể đến axít folic – một dưỡng chất mà hầu như các bà mẹ khi mang thai đều nghe nhắc đến, tiếp đó là sắt, kẽm, vitamin nhóm B và chất xơ. Vì thế, đừng lười ăn cơm khi đang mang bầu bạn nhé.

Bông cải xanh

Một loại thực phẩm hiếm hoi được đứng một mình mà không bị xếp vào một nhóm thực phẩm nào đó. Bông cải xanh tốt đến nỗi, các nhà khoa học khuyên rằng bạn có thể ăn nó bao nhiêu tuỳ thích, không giới hạn số lượng. Hầu hết những gì thai phụ cần đều có trong nó: folate, canxi, vitamin A, kali, các chất chống oxy hoá nhóm carotene, chất xơ…

Các loại trái mọng

Trong tiếng Anh, đó là các loại trái cây được kết thúc với đuôi "-berry" như strawberry (trái dâu tây), raspberry (trái mâm xôi), blueberry (trái việt quất)… Chúng có chứa rất nhiều các chất chống oxy hoá, vitamin C, folate, chất xơ, kali… rất tốt cho hệ miễn dịch chống chọi lại các loại bệnh tật, đặc biệt trong thời kỳ thai nghén của phụ nữ.

Thịt bò

Có thể coi thịt bò là loại "siêu" thực phẩm chứa sắt ở thể tốt nhất. Sắt trong thịt bò được coi là sắt ở dạng sẵn sàng để cơ thể sử dụng, không mất công "chuyển hoá này nọ". Thịt bò cũng là loại thịt giàu protein, vitamin B6, vitamin B12, kẽm và choline.

Các loại rau màu xanh đậm

Ví dụ như rau chân vịt, là một "kho chứa" folate và một vài dạng của chất sắt. Sắt trong những loại rau này không dễ hấp thụ vào cơ thể như sắt trong thịt bò, nhưng bù lại, chúng làm phong phú thêm các nguồn chất sắt cho cơ thể. "Chìa khoá" để sắt được hấp thụ vào cơ thể là vitamin C, do đó, lưu ý bổ sung vitamin C cũng là cách để cơ thể có nguồn sắt đầy đủ.

Trái mơ khô

Một thông tin mà không phải ai cũng biết, đó là trái mơ khô có chứa nhiều sắt hơn trái mơ tươi. Ngoài ra, trái mơ khô cũng là nguồn cung cấp folate, canxi và magiê cho cơ thể, đồng thời cũng là một trong những loại trái cây khô có chứa nhiều chất xơ nhất. Tuy nhiên, vì là trái cây khô đã được qua xử lý bằng hoá chất nên cũng không nên ăn quá nhiều.

Đậu hũ

Món ăn rẻ tiền và rất quen thuộc này có chứa một lượng vừa phải các khoáng chất, sắt, canxi, magiê và vitamin A. Ngoài ra, trong đậu hũ còn có vitamin K – vitamin vô cùng cần thiết cho quá trình đông máu, một yếu tố quan trọng khi sinh nở.

Cá hồi

Một trong những loại cá tốt nhất – rất giàu protein, vitamin nhóm B và chất béo omega-3. Chất béo này không chỉ tốt cho sự phát triển của não bé, mà còn là thành phần cực kỳ quan trọng trong việc phát triển võng mạc của mắt thai nhi. Những sự phát triển này bắt đầu "tăng tốc" vào khoảng tuần thứ 21 trong thai kỳ, và liên tục hoàn thiện cho đến khi em bé được sinh ra.

Cá ngừ

Một loại cá mặc dù có chứa rất nhiều chất béo omega-3 nhưng lại không nên ăn nhiều do trong thịt cá có chứa thuỷ ngân. Ăn quá nhiều có thể gây nhiễm độc thuỷ ngân cho thai nhi, vì thế chỉ nên hạn chế hai bữa một tuần. Cá ngừ cũng là một loại thực phẩm giúp làm giảm nguy cơ trầm cảm sau sinh khá tốt.

Trứng

Trứng có chứa rất nhiều lutein và zeaxanthin – những hợp chất chống oxy hoá được biết tới phổ biến dưới cái tên "nhóm chất carotene". Trong trứng còn có choline, một dưỡng chất quan trọng giúp phòng ngừa khuyết tật ống thần kinh, để em bé có được trí nhớ tốt hơn sau này.

Cá sardine

Một loại cá nhỏ khá ngon, có hàm lượng thuỷ ngân rất ít, nhưng rất giàu DHA, tốt cho sự phát triển trí não bé. Nhớ đảm bảo cá đã được làm sạch và rút hết ruột trước khi chế biến món ăn bạn nhé!

Trái bơ và các loại hạt

Những thực phẩm này "nổi tiếng" với nguồn chất béo có lợi. Chúng giúp cho sự hấp thụ của các chất dinh dưỡng vào cơ thể dễ dàng hơn, đồng thời cân bằng insulin trong cơ thể, tránh được nguy cơ bị tiểu đường thai kỳ.

Chuối

Gần như ai cũng biết chuối là một "kho chứa" kali, giúp cân bằng lượng nước trong cơ thể và giảm stress hiệu quả. Chuối cũng chứa khá nhiều trytophan, một loại amino axít quan trọng trong quá trình sản sinh serotonin, giúp cơ thể ngủ ngon hơn.

Cuối cùng, đừng quên những loại thuốc bổ dành cho thai phụ. Các loại thuốc bổ này sẽ được bác sĩ sản khoa kê cho bạn ngay từ những ngày đầu của thai kỳ, vì rất hiếm phụ nữ khi mang thai có thể tự cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho mình chỉ thông qua việc ăn uống. Chúc bạn có một thai kỳ khoẻ mạnh!

Nguồn:
[1] sgtt.vn
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

Nhận xét : 0

Thức ăn và ung thư

Nhiều nghiên cứu cho thấy, có khoảng 1/3 khối u ác tính xảy ra có liên quan mật thiết với nhân tố từ bữa ăn, chẳng hạn như ăn uống với kết cấu không hợp lý, thói quen ăn uống thiếu vệ sinh và gia công chế biến không khoa học.

Những nhân tố gây ung thư trong thức ăn 


Trong thức ăn đã phát hiện 4 chất lớn gây ung thư hơi rộng khắp là hợp chất N-nitrosate, aflatoxin, heterocyclic amines và polycyclic aromatic hydrocarbon. 

Thức ăn chứa aflatoxin gồm đậu phộng, dầu đậu phộng, hạt bắp, gạo… bị mốc. Aflatoxin là “thủ phạm” chính gây ra ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư gan, nó được sản sinh từ vi khuẩn Aspergillus flavus do lương thực và bắp bị mốc tạo ra. Cho nên, khi lương thực và bắp bị mốc tuyệt đối không được ăn. 

Thức ăn chứa hợp chất N-nitrosate gồm các thức ăn ngâm chế như cải muối, cải chua, thịt mặn. Muối nitrat có thể gây ra các chứng ung thư thực quản, dạ dày, gan, trực tràng, bàng quang…, do vậy, thức ăn ngâm chế nên ít ăn. 

Thức ăn chứa hợp chất polycyclic aromatic hydrocarbon gồm thức ăn chiên mỡ, nướng. Dầu ăn nhiệt độ cao sử dụng lại nhiều lần; thức ăn nướng khét hay chiên dầu quá mức đều có chứa chất này. Vì thế, dầu không được sử dụng lại nhiều lần, thức ăn quay nướng hay chiên giòn cũng không nên ăn nhiều. 

Thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng và thuốc diệt cỏ, chẳng hạn như dư lượng thuốc trừ sâu trên rau quả. Do nhà nông quá lạm dụng nhiều nông dược, cho nên những nông sản phẩm bán ra thị trường thường có dư lượng thuốc trừ sâu, nếu khi ăn không rửa thật sạch, những thứ thuốc này khi đi vào cơ thể sẽ trở thành “sát thủ” gây ra ung thư. 
Nhân tố dinh dưỡng và ung thư 

Thức ăn nhiều chất béo và cholesterol: nhiều chứng cứ về “dịch” bệnh cho thấy ăn uống giàu chất béo có tỷ lệ bộc phát ung thư kết, trực tràng tăng lên thấy rõ, cũng như có liên quan phát sinh ung thư tuyến vú, tiền liệt tuyến, bàng quang, buồng trứng… Cholesterol trong bữa ăn cũng có thể tăng nguy cơ của ung thư tuyến vú và kết tràng. 

Bữa ăn giàu năng lượng và đạm: hấp thu nhiều năng lượng có nguy cơ gia tăng chứng ung thư. Năng lượng hấp thu quá nhiều sẽ tăng cân nặng, từ đó tăng nguy cơ phát sinh ung thư tuyến vú và nội mạc tử cung. Bữa ăn nhiều đạm có thể tăng nguy cơ ung thư tuyến vú ở giới nữ. 

Khói thuốc: những thứ khói phát sinh từ thuốc lá, dầu ăn, xăng dầu đều có chứa chất gây ung thư, hít vào bất kể do chủ động hay thụ động đều có hại đối với cơ thể. 
Các thành phần chống ung thư trong thức ăn 

Chất xơ: xơ là một hợp chất từ thực vật không bị men tiêu hóa phân giải, là chất hỗn hợp phân tử lớn rất phức tạp. Tăng chất xơ trong bữa ăn như rau, trái cây hay ngũ cốc, có thể thông qua ảnh hưởng nhu động ruột và tận dụng chất sinh học oestrogen trong cơ thể mà giảm nguy cơ của ung thư kết tràng và ung thư tuyến vú, thậm chí còn có thể giảm nguy cơ của ung thư miệng, hầu họng, thực quản, dạ dày, tiền liệt tuyến, nội mạc tử cung và buồng trứng… 

Vitamin: 

- Vitamin A: có tác dụng ức chế khối u ác tính. Vitamin A có thể ức chế sự phân hóa của tổ chức thượng bì, đảm bảo trạng thái bình thường của tổ chức tế bào thượng bì. Khi cơ thể thiếu vitamin A, tế bào thượng bì sừng hóa, diễn biến thành tế bào dạng vảy cho đến khi phát triển thành ung thư. Vitamin A còn có tác dụng đưa những tế bào dị dạng đã chuyển hướng phân chia thành tế bào ung thư hồi phục lại bình thường. 

- Vitamin E: có tác dụng chống oxy hóa, có thể ức chế sự hình thành các gốc tự do trong cơ thể, bảo vệ tế bào phân chia bình thường, ngăn cản tế bào thượng bì tăng trưởng quá mức, giảm bớt tế bào biến chuyển ung thư. Nghiên cứu lâm sàng chứng minh, vitamin E dùng chung một số thuốc chống ung thư sẽ tăng hiệu quả, đồng thời còn có thể giảm nhẹ phản ứng độc tính của hóa trị. 

- Vitamin C: có tác dụng phòng, chống ung thư rất mạnh, nó có thể ngăn cản hình thành chất gây ung thư nitrosamin, thúc đẩy sự hình thành của tế bào lympho, tăng chức năng miễn dịch cơ thể, còn có thể thông qua ảnh hưởng việc chuyển hóa năng lượng mà ức chế tế bào ung thư tăng trưởng. 

- Vitamin nhóm B: phần nhiều vitamin nhóm B được xem là gen hỗ trợ của các men tham gia việc tổng hợp, phân giải và chuyển hóa hỗ tương nhau của các chất protid, lipid và glucid bên trong tế bào. Khi thiếu vitamin B1 có thể làm tăng sự hình thành và tăng trưởng nhanh của khối u. Vitamin B2 có thể ức chế hoạt tính aflatoxin, giảm phát sinh ung thư. Vitamin B6 có thể ức chế sự tiến triển và di căn của ung thư bàng quang. Thiếu vitamin B12 có thể tăng tỷ lệ phát sinh ung thư dạ dày và ung thư máu, tuy nhiên, nếu thừa lại làm cho bệnh diễn biến xấu. 

Chất khoáng: 

- Calci: ion calci tham dự cả quá trình phân chia và tăng trưởng của tế bào thượng bì, mức độ calci trong cơ thể là một trong những nguyên nhân gây ung thư trực tràng, trong bữa ăn thường ngày nồng độ calci trong ruột đã có thể ức chế thượng bì kết tràng tăng trưởng. 

- Selenium: có thể cải thiện chức năng miễn dịch cơ thể, còn có thể thông qua điều chỉnh sự phân chia, sắp xếp tế bào và thể hiện của gen ung thư… mà làm cho tế bào chuyển hướng bình thường hóa. Ngoài ra, selenium còn có thể thúc đẩy chức năng tăng trưởng và tái sinh của tế bào bình thường. 

- Germani: có thể làm cho cơ thể sản sinh chất gây nhiễu, ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư. 

Các hoạt chất sinh học: 

Thức ăn thực vật như ngũ cốc, đậu, rau, quả ngoài việc có chứa vitamin và chất khoáng, còn chứa nhiều hoạt chất sinh học, chẳng hạn như bêta-caroten trong rau và quả màu vàng đỏ, sitosterol trong ngũ cốc, stigmasterol, saponin, soya isoflavond trong các loại đậu, polyphenolic trong trà, hợp chất sulfur trong tỏi, acid phytic trong vỏ đậu và ngũ cốc…, hầu như tất cả những hoạt chất sinh học này đều có tác dụng chống ung thư ở những mức độ khác nhau. 

Làm thế nào có bữa ăn phòng ngừa ung thư? 

Quỹ nghiên cứu ung thư thế giới đưa ra 14 điều kiến nghị cho bữa ăn bảo vệ sức khỏe có nội dung như sau: 

Thức ăn đa dạng: mỗi bữa ăn nên bao gồm các món chính gồm rau, quả, đậu và lương thô. 

Duy trì cân nặng thích hợp: tránh thể trọng quá nhẹ hay quá nặng, sau khi trưởng thành cần hạn chế thể trọng không vượt quá 5 kg so với tiêu chuẩn. Phụ nữ vượt cân hay quá béo phì tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung, đồng thời nguy cơ phát sinh ung thư tuyến vú, thận, ruột cũng cao. 

Đảm bảo hoạt động thể lực: kiên trì tập luyện thể thao, nếu khi làm việc rất ít hoạt động hay chỉ hoạt động nhẹ, hàng ngày nên tiến hành đi bộ nhanh 1 giờ hay có lượng vận động tương tự, mỗi tuần tối thiểu phải tiến hành 1 giờ vận động mạnh vã mồ hôi. 

Ăn nhiều rau và quả: kiên trì mỗi ngày ăn 400 - 800 g các loại rau, quả. Mỗi ngày đảm bảo ăn 3 - 5 loại rau và 2 - 4 loại quả, đặc biệt lưu ý hấp thu đủ vitamin A, C. 

Chủ yếu dùng thức ăn thực vật: ăn nhiều thức ăn thực vật giàu đạm và tinh bột từ nhiều nguồn, cố gắng ít ăn thực phẩm chế biến tinh luyện, cần hạn chế hấp thu đường tinh luyện. 

Uống ít rượu: nam giới mỗi ngày uống rượu không vượt quá 5% so với tổng nhiệt lượng hấp thu, nữ giới không vượt quá 2,5%. 

Hạn chế hấp thu thức ăn động vật: mỗi ngày lượng thịt nạc hấp thu hạn chế dưới 90 g, tốt nhất chọn thịt cá và gia cầm thay thế thịt bò, heo, dê. 

Hạn chế hấp thu thức ăn nhiều chất béo: đặc biệt là hấp thu chất béo động vật, nên chọn dầu thực vật thích hợp và hạn chế lượng dùng. 

Hạn chế muối: hạn chế hấp thu thức ăn ngâm chế, khống chế lượng muối dùng trong nấu ăn và nêm nếm. 

Chống mốc: lưu ý phòng ngừa thức ăn thiu và mốc, không ăn thức ăn đã nhiễm khuẩn và nấm. 

Chống ôi thiu: dùng đông lạnh và các phương pháp thích hợp khác để bảo quản những thức ăn dễ ôi thiu. 

Hạn chế sử dụng chất phụ gia: đối với chất phụ gia, thức ăn ô nhiễm và chất tồn dư độc hại cần chế định tiêu chuẩn “liều hạn chế” cũng như giám định được hàm lượng trong thức ăn. 

Chú ý cách chế biến thức ăn: không dùng thức ăn nướng khét, cố gắng ít ăn cá hay thịt trực tiếp nướng quay trên lửa, thịt ngâm ủ và thịt xông khói. 

Bổ sung chất dinh dưỡng: đối với những ai đã tuân thủ những kiến nghị nêu trên, thường không cần bổ sung thêm chất dinh dưỡng. 


DS. NGUYỄN PHƯỚC THÀNH

Nguồn:
[1] khoahocphothong.com.vn
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Nhận xét : 0

Những quy tắc vàng để giảm cân sau sinh

Cân nặng thường là nỗi ám ảnh của nhiều chị em sau khi sinh em bé. Dưới đây là những lời khuyên giúp bạn giảm cân hiệu quả với chế độ ăn uống và tập luyện hợp lý.

1. Đừng quá lo lắng

Bạn nên nhớ rằng sau khi sinh nở, cơ thể bạn đã trải qua một sự thay đổi rất lớn, vì thế đừng quá hi vọng mình sẽ nhanh chóng lấy lại vóc dáng như thời kì trước khi mang bầu.

Hãy đặt ra một kế hoạch giảm cân lành mạnh và từng bước thực hiện điều đó.

2. Cho con bú

Cho con bú vừa tốt cho em bé lại vừa giúp bạn có thể dễ dàng giảm cân (bạn có thể đốt cháy được khoảng 500 calo mỗi ngày).

3. Tập thể dục

Bạn có thể tư vấn bác sĩ xem thời điểm nào thích hợp để bắt đầu tập thể dục sau khi sinh con. Hãy bắt đầu với các bài tập nhẹ nhàng sau đó nâng dần mức độ – bạn có thể đi bộ xung quanh nơi ở hoặc tìm lớp tập yoga dành cho người sau sinh hoặc lớp thể dục thẩm mỹ.

Nên dành khoảng 30 phút mỗi lần và 3 buổi/tuần để tập thể dục.

4. Ăn nhiều bữa nhỏ

Đừng để đến khi quá đói mới ăn bởi bạn sẽ ăn nhiều hơn bình thường. Tránh ăn quá nhiều và giữ cho quá trình trao đổi chất được diễn ra bình thường bằng cách ăn 5-6 bữa nhỏ/ngày.

5. Ăn nhẹ hợp lý

Bạn không nên ăn những đồ ăn vặt có chứa hàm lượng đường cao. Thay vào đó hãy ăn hoa quả và rau xanh tươi được cắt nhỏ sẽ tốt cho bạn hơn. Nho hoặc táo đông lạnh với bơ lạc cũng là một gợi ý thú vị. Hãy tích trữ trong tủ lạnh các đồ ăn vặt giàu chất xơ và ít béo, tránh những thứ như khoai tây lát chiên và kem.

6. Tránh đồ ăn sẵn

Khi bạn có em bé, bạn sẽ không có nhiều thời gian để tự chuẩn bị bữa ăn cho mình. Thay vì gọi đồ ăn sẵn, hãy dành vài tiếng vào cuối tuần để chuẩn bị thức ăn cho cả tuần sau đó, chia thành những phần nhỏ và giữ đông lạnh.

7. Ăn nhiều chất xơ

Ăn nhiều chất xơ sẽ giúp bạn no lâu, đặc biệt, các chất xơ hòa tan trong thực phẩm như yến mạch, hoa quả tươi và rau xanh. Hãy chọn bánh mì với ít nhất 3g chất xơ/lát hoặc mỳ ống ngũ cốc nguyên cám hay gạo lức.

8. Lựa chọn protein nạc

Thay vì ăn các loại thịt có mỡ, bạn hãy chọn những loại nạc như gà và cá. Cá hồi là nguồn cung cấp omega-3 dồi dào có thể giúp bạn giảm viêm và giảm cân hiệu quả.

Những bà mẹ cho con bú chỉ nên ăn khoảng 1,5 lạng cá ngừ mỗi tuần và tránh ăn cá kiếm do lo ngại về hàm lượng thủy ngân trong đó.

9. Uống nhiều nước

Uống đủ nước không chỉ giúp cơ thể không bị mất nước mà còn hỗ trợ tiêu hóa và giảm cảm giác thèm ăn. Nếu bạn ấn vào da mà không thấy da nhanh chóng đàn hồi trở lại thì rất có thể bạn đang bị thiếu nước. Bạn hãy uống 8 cốc nước một ngày.

10. Yêu cầu sự giúp đỡ

Hãy chia sẻ với gia đình bạn về việc không tích trữ những đồ ăn thiếu lành mạnh ở nhà hoặc tư vấn chuyên gia để lên kế hoạch ăn kiêng hợp lí. Nhờ chồng bạn giúp đỡ trong việc chăm sóc em bé để bạn có thể tập thể dục hoặc nghỉ ngơi (đừng đánh giá thấp tầm quan trọng của một giấc ngủ sâu). Đồng thời bạn cũng cần sự ủng hộ về mặt tinh thần bởi khi bạn cảm thấy buồn chán, bạn dễ tìm đến một món đồ ngọt khoái khẩu.

Nguồn:
[1] dantri.com.vn
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Nhận xét : 0

Thêm kẽm, bớt ung thư

Gần đây, một số vitamin và chất khoáng cũng như các chất chống oxy hoá trong thực phẩm được chứng minh là có vai trò phòng chống ung thư, đặc biệt là kẽm trong phòng chống ung thư đường tiêu hoá.
Tôm là thực phẩm chứa nhiều kẽm nhất. Ảnh: Thiên An
Kẽm là vi khoáng đã được biết đến với vai trò kích thích tăng trưởng, tăng miễn dịch, phòng chống các bệnh nhiễm trùng ở người và động vật, đặc biệt là phòng chống bệnh nhiễm trùng hô hấp và tiêu chảy ở trẻ em. Từ năm 2001 – 2003, tạp chí Nghiên cứu về ung thư của Mỹ đã công bố nhiều phát hiện về vai trò của kẽm trong phòng chống ung thư thực quản ở chuột thí nghiệm. Các tác giả cho chuột ăn một chế độ thiếu kẽm (0 – 3ppm, ZD) trong vòng năm tuần, sau đó được bơm một liều NMBA (Nitrosomethyl-benzylamine, chất gây ung thư thường có trong thực phẩm nướng cháy) 2mg/kg cân nặng của chuột, đây là một mô hình gây ung thư thực nghiệm đường tiêu hoá đã được áp dụng rộng rãi trong thập kỷ qua. Sau khi nhận chất gây ung thư NMBA, ngay lập tức một nhóm chuột được chuyển sang ăn chế độ phục hồi đủ kẽm (75ppm, ZR), một nhóm vẫn tiếp tục ăn chế độ thiếu kẽm như trước. Các theo dõi biến đổi về tế bào học của biểu mô thực quản được thực hiện sau 1 giờ, 24 giờ, 72 giờ và 432 giờ (18 ngày). Thật đáng ngạc nhiên: kết quả cho thấy ở nhóm chuột được ăn chế độ phục hồi đủ kẽm có tỷ lệ xuất hiện khối u biểu mô thực quản là 8%, ít hơn hẳn so với nhóm chuột đối chứng (vẫn ăn chế độ thiếu kẽm) có tỷ lệ xuất hiện khối u là 93% tại thời điểm 15 tuần sau ăn chất NMBA.

Các tác giả đã chứng minh cơ chế tác dụng của kẽm trong phòng chống ung thư liên quan tới sự lập trình chết (Apoptosis) của tế bào biểu mô thực quản khi tiếp xúc với chất gây ung thư.

Bằng theo dõi phát triển tế bào, nghiên cứu đã cho thấy quá trình Apoptosis được thiết lập rất sớm: 5 – 30 phút ngay khi tiếp xúc với chất độc NMBA. Hình thái của tế bào nhiễm độc bị thay đổi, được tiếp tục tồn tại phát triển hoặc bị loại trừ khỏi biểu mô thực quản tuỳ thuộc một số điều kiện. Nếu ăn đủ kẽm sẽ giúp quá trình lập trình có lợi xảy ra, tức là loại trừ những tế bào bất thường bị nhiễm độc; ngược lại nếu chế độ ăn không đủ kẽm, hoặc cơ thể bị thiếu kẽm thì các tế bào bị nhiễm chất độc sẽ được lập trình để tiếp tục tồn tại và phát triển thành khối u hoặc ung thư.

Về mặt thực tế, quá trình Apoptosis xảy ra nhanh, do vậy ít được chú ý trong cuộc sống hàng ngày. Nhờ cơ chế này mà cơ thể con người có thể tự bảo vệ hoặc cũng có thể gây nên những biến đổi bất thường trong một số điều kiện không thuận lợi và gây hậu quả không tốt cho cơ thể (như ung thư thực quản dưới tác dụng của chất NMBA).

Từ nghiên cứu trên, chúng ta thấy rằng biện pháp phòng chống ung thư tốt nhất là tránh tiếp xúc với các chất độc hại. Tuy nhiên, việc phát hiện để tránh các chất độc hại hàng ngày không phải lúc nào cũng làm được. Vậy biện pháp thực tế hơn là luôn chuẩn bị cho cơ thể đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt là ăn những món có nhiều các chất dinh dưỡng, vitamin và chất khoáng, các chất chống oxy hoá như kẽm, selen, vitamin C, vitamin E, beta-carotene, lycopene, flavonoids, vốn có nhiều trong rau quả tươi có màu vàng, xanh, tím, đen, các chế phẩm từ đậu nành... để giúp cơ thể phòng chống nhiều loại ung thư.


PGS.TS.BS NGUYỄN XUÂN NINH
TRƯỞNG KHOA VI CHẤT, VIỆN DINH DƯỠNG QUỐC GIA.

Nguồn:
[1] sgtt.vn
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

Nhận xét : 0

9 chất siêu dinh dưỡng bí mật có thể bạn chưa hề biết

Có những chất dinh dưỡng cực kì tốt cho sức khỏe nhưng chắc chắn bạn rất ít khi được nghe nhắc tới chúng.

Dưới đây là một danh sách các chất dinh dưỡng siêu mạnh mẽ có trong các loại thực phẩm mà có thể bạn chưa hề biết tới.

1. Rutin (một loại vitamin P)

Có nhiều trong: Kiều mạch, trái cây có múi và măng tây.

Lợi ích sức khỏe: Cải thiện lưu thông máu, có tính kháng viêm và cũng có thể giúp ngăn ngừa phù tĩnh mạch gây khó chịu ở chân. Rutin còn là một chất siêu chống oxy hóa.

2. Naringenin

Có trong: Các loại trái cây có múi như cam, bưởi...

Lợi ích sức khỏe: Giúp phục hồi sức khỏe cho DNA bị hư hỏng, ngăn ngừa oxy hóa, cho da mặt hồng hào, trắng đẹp.

3. Hydroxytyrosol

Có nhiều trong: Dầu ô liu, quả ô liu.

Lợi ích sức khỏe: Tăng cường sức khỏe đường ruột và đường hô hấp, ngăn ngừa ung thư. Nó cũng làm giảm stress, oxy hóa gây ra bởi hút thuốc lá, có hiệu lực chống gốc tự do mạnh mẽ.

4. Curcumin

Có nhiều trong: Nghệ, cà ri và mù tạt.

Lợi ích sức khỏe: Chống viêm, chống oxy hóa và chống ung thư. Curcumin là chất hủy diệt ung thư vào loại mạnh nhất theo cơ chế hủy diệt từng bước các tế bào ác chúng làm vô hiệu hóa tế bào ung thư và ngăn chặn không cho hình thành các tế bào ung thư mới. Trong khi đó các tế bào lành tính không bị ảnh hưởng. Rõ ràng, nó cũng có thể giúp ngăn ngừa, làm giảm chứng ợ nóng và cholesterol cao.

5. Cyanidin

Có nhiều trong: Quả việt quất, mâm xôi, anh đào.

Lợi ích sức khỏe: Cyanidin là một chất chống oxy hóa rất mạnh, có thể giúp ngăn ngừa bệnh béo phì và giúp giảm cân cũng như hạn chế bệnh tiểu đường phát triển. Nó ngăn chặn chống lại căn bệnh ung thư và bảo vệ làn da của bạn!

6. Limonene

Có nhiều trong: Thực phẩm; trái cây có múi như cam, quýt, bưởi...

Lợi ích sức khỏe: Nó được sử dụng để điều trị sỏi mật vì nó có thể hoạt động như một dung môi để phá vỡ các viên sỏi và để trung hòa axit dạ dày trong trường hợp bạn bị chứng ợ nóng. Nó cũng là chất chống oxy hóa và có khả năng chống ung thư.

7. Lariciresinol

Có nhiều trong: Hạt lanh, vừng, hạt hướng dương, bông cải xanh và rau có liên quan.

Lợi ích sức khỏe: Làm giảm cholesterol và "chiến đấu" chống lại ung thư.

8. Pinoresinol

Có nhiều trong: Hạt mè, hạt lanh, dầu ô liu và ngũ cốc nguyên hạt.

Lợi ích sức khỏe: Có đặc tính chống ung thư.

9. Betaine

Có nhiều trong: Rau bina, củ cải và các loại ngũ cốc.

Lợi ích sức khỏe: Có lợi trong điều trị thiếu máu, hen suyễn, sỏi mật, khó tiêu và ợ nóng. Các bệnh khác có thể được cải thiện nhờ Betaine bao gồm viêm khớp dạng thấp, các vấn đề về tuyến giáp, tiêu chảy và dị ứng.

Nguồn:
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Nhận xét : 0

Ăn uống thế nào vết thương mau lành?

Ăn uống giúp cơ thể phục hồi sức khỏe trong giai đoạn bị thương đó là điều mà ai cũng biết? Tuy nhiên lập trình chế độ ăn uống này ra sao thì lại còn là điều băn khoăn của nhiều người.

Vitamin C

Trong quá trình làm lành vết thương, vitamin C sẽ tham gia tích cực vào quá trình sản sinh collagen cho làn da. Sau đó, vitamin C cũng đảm nhận trọng trách tái tạo tế bào da, hạn chế nguy cơ hình thành vết sẹo trên da.

Chưa hết, vitamin C cũng là “công cụ” cần thiết để vận chuyển oxy đến mọi bộ phận khác trong cơ thể. 

Với tất cả những “tính năng” quan trọng này vitamin c được mệnh danh là “thần dược” quý giá đối với cơ thể.

Có thể tìm thấy hàm lượng vitamin C dồi dào có trong cà chua, ớt chuông, khoai tây, rau bina, trái cây thuộc họ cam quýt, dâu tây, bông cải xanh, bắp cải, ổi, các loại rau có lá màu xanh sẫm.

Vitamin A

Vai trò của vitamin A là giúp sáng mắt, tăng cường thị lực, tuy nhiên bên cạnh công dụng nổi trội này thì vitamin C còn thúc đẩy quá trình tổng hợp các sợi collagen và hạn chế nguy cơ viêm nhiễm nhờ “cơ chế” tăng sức đề kháng cho hệ miễn dịch.

Vitamin A có nhiều trong các loại rau màu lá xanh sẫm, các loại quả màu vàng như cà rốt, đu đủ, bí đỏ, bí ngô, gan động vật, các sản phẩm chế biến từ bơ sữa.

Vitamin K

Đóng vai trò làm lành vết thương và đặc biệt có khả năng cầm máu nhanh từ vết thương. Minh chứng cho thấy vitamin K khi được kết hợp cùng canxi trong cơ thể sẽ sản sinh ra chất thrombin – là “vũ khí” giúp bạn cầm máu hiệu quả.

Những thực phẩm giàu vitamin K là rau có lá màu xanh sẫm, cải bắp, cải xoăn, nho, quả bơ, quả kiwi.

Kẽm

Là loại vi chất giúp cho khoảng 300 loại enzyme trong cơ thể đảm nhận tốt vai trò và nhiệm vụ chính của nó. Trong số đó có nhiều loại enzyme hỗ trợ quá trình làm lành vết thương, đặc biệt giúp tái tạo, sản sinh ra collagen. Ngoài ra nó còn đảm nhận quá trình phân chia tế bào trong cơ thể.

Kẽm cũng được xem là “thần dược” với quý ông vì nó giúp quý ông dễ dàng gìn giữ phong độ “phòng the” và tham gia tích cực vào quá trình sinh tinh.

Kẽm có nhiều trong các đồ ăn hải sản, tôm, thịt đỏ, thịt bò, thịt cừu, ngũ cốc, hàu, súp lơ xanh, hạt vừng, hạt bí đỏ.

Sắt

Trong khi cơ thể tổng hợp collagen thì rất cần có vai trò của sắt để chuyển hóa proline và lysine. Quá trình kìm hãm sự lưu thông ngoại biên và oxy hóa chính là những nguyên nhân khiến cho vết thương ở những người thiếu sắt (dễ dẫn đến thiếu máu) lâu lành hơn bình thường. 

Hơn thế nữa sắt cũng là phương tiện mang những nguyên liệu cần thiết như protein, ôxy đến và đem chất thải ra khỏi khu vực vết thương. Các bạch cầu, đại thực bào trong máu giúp dọn dẹp các chất thải, xác tế bào chết. Vì vậy, để vết thương chóng lành sẹo.

Danh sách những thực phẩm giàu sắt là huyết lợn, gà, bò, thịt bò, dứa, gan, trứng....

Đồng

Vai trò của đồng là giúp cho hàm lượng enzyme lysyl oxidaza đảm nhận vai trò tái tạo collagen và giúp da có khả năng đàn hồi tốt, là “điểm cộng” cho cơ thê trong quá trình lành vết thương.

Đồng có nhiều trong cà chua, khoai tây, gừng, mù tạc, cà tím, măng tây, hạt hướng dương, hạt tiêu, nấm các loại…

Protein

Rất quan trọng với sức khỏe nói chung, nó giúp cho cơ bắp săn chắc, và tham gia vào nhiều hoạt động sống của cơ thể. Thêm vào đó, protein còn là nguyên liệu chính để tạo tế bào mới, thành phần của mô hạt và các thành phần khác có liên quan đến sự lành vết thương như collagen, fibronectin. 

Minh chứng cũng cho thấy ở người suy dinh dưỡng, người có bệnh lý làm giảm protein trong cơ thể (như hội chứng thận hư, các bệnh rối loạn chuyển hóa protein…), vết thương thường chậm lành sẹo hơn.

Vậy nên khi bị thương bạn cần quan tâm đến chế độ ăn uống dồi dào protein để giúp cơ thể bình phục nhanh chóng và hạn chế nguy cơ để lại sẹo xấu.

Protein được tìm thấy trong thịt nạc các loại, đậu tương, các chế phẩm của sữa….

Nguồn:
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Nhận xét : 0

6 nguy cơ khi thiếu hụt chất béo

1.Thiếu hụt vitamin

Chất béo trong thực phẩm chính là chất xúc tác để giúp hòa tan các loại vitamin, đặc biệt là những vitamin cần có môi trường chất béo để phát huy tác dụng như vitamin A, D, E và K. Các vitamin quan trọng này hầu hết cư ngụ trong gan và các tế bào chất béo rất quan trọng với chức năng của cơ thể trong quá trình phát triển, tăng trưởng, miễn dịch, chống đông máu…

Vậy nên nếu trong chế độ ăn uống của bạn thiếu hụt chất béo thì lượng vitamin được thu nạp vào cơ thể sẽ lại bị bài tiết ra bên ngoài và như vậy bạn sẽ có nguy cơ bị thiếu hụt vitamin.

2. Gây suy nhược

Một chế độ ăn uống quá nghèo nàn chất béo đặc biệt là những axit béo thiết yếu sẽ khiến cho cơ thể bạn gánh chịu những hệ lụy xấu liên quan đến sức khỏe tinh thần.

Trong các loại axit béo thì omega 3 và omega 6 đóng vai trò quyết định chi phối đến tính cách và trạng thái tâm hồn. Nó cũng tham gia vào quá trình sản sinh nhiều loại hoormon và chất hóa học trong não.

Theo kết quả từ một cuộc nghiên cứu thì sự thiếu hụt các axit béo trong cơ thể sẽ gây nên tình trạng tâm lý suy nhược. Một nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng axit béo có vai trò giúp bảo vệ các tế bào thần kinh trong não, tránh được những tổn thương.

3.Tăng nguy cơ ung thư

Ung thu ruột, ung thư vú hay ung thư tuyến tiền liệt đều có thể khởi nguồn từ nguyên nhân thiếu hụt axit béo trong cơ thể.

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra minh chứng cho thấy rằng trong chế độ ăn uống của những người có hàm lượng lớn omega 3 thì quá trình phát triển các khối u hay các tế bào ung thư sẽ chậm lại đáng kể. Ngược lại nếu thiếu những chất béo lành mạnh trong cơ thể thì căn bệnh ung thư có thể “gõ cửa” bạn bất cứ lúc nào.

4.Tăng cholesterol và bệnh tim mạch

Khi cơ thể được bổ sung một lượng quá ít chất béo sẽ khiến cho hàm lượng cholesterol có lợi HDL giảm xuống. Trong khi đó nhiệm vụ của loại cholesterol này là bảo vệ bạn khỏi chứng bệnh tim mạch bằng cơ chế “vận chuyển” những cholesterol xấu trong thành mạch máu xuống gan và để bài tiết, đào thải ra bên ngoài. Khi lượng cholesterol này bị mất cân bằng thì cholesterol xấu LDL như một quy luật tự nhiên sẽ có cơ hội tăng lên. 
Điều này đồng nghĩa rằng bạn sẽ phải đối mặt với những vấn đề về bệnh tật liên quan đến tim mạch, cao huyết áp…

Theo các chuyên gia sức khỏe thì những loại chất béo hữu ích như chất béo omega 3 có trong mỡ cá, các loại tinh dầu sẽ là đồng minh cải thiện hàm lượng cholesterol có lợi.

5.Gây mất cân bằng dinh dưỡng

Với chế độ ăn uống quá khắt khe với hàm lượng chất béo thì cơ thể bạn sẽ có nguy cơ bị mất cân bằng dinh dưỡng, gây nên nhiều rắc rối với sức khỏe, đặc biệt kích thích cơ thể thu nạp nhiều thực phẩm giàu protein hay tinh bột.

Một chế độ ăn uống quá giàu tinh bột sẽ gây nên tiểu đường, gây ảnh hưởng đến vị giác…rất bất lợi cho sức khỏe. Đó là chưa kể đến những điểm trừ của nó với thận và gan.

6.Gây thiếu hụt năng lượng

Với cơ thể con người năng lượng luôn là nguồn “tài nguyên” vô giá vì thiếu năng lượng sẽ gây nên cảm giác uể oải, mệt mỏi. Là “thủ phạm” khiến bạn khó tập trung và hạn chế sức sáng tạo, gây nên tình trạng làm việc hoặc lao động kém năng suất.

Theo các nhà khoa học, cứ 1g chất béo cho 9Kcal. Vì thế các loại thức ăn giàu lipit là nguồn năng lượng đậm đặc cần thiết cho người lao động nặng, cần thiết cho thời kỳ phục hồi dinh dưỡng đối với người ốm.

Nguồn:
[1] vtc.vn
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Nhận xét : 0

Nước dừa – nước giải khát tốt và bổ cho mùa hè

Tác dụng chữa bệnh của nước dừa

Quả dừa 5 - 7 tháng tuổi được xem là có chất lượng nước cao nhất, nếu dưới 5 tháng thường có vị đắng. Đồ uống này có màu trong, ngọt, vô trùng và chứa nhiều dưỡng chất như vitamin, khoáng chất, chất điện phân, enzym, acid amin, cytokinin... Mỗi trái dừa chứa khoảng 200 - 1.000ml nước tùy thuộc vào từng loại dừa.

Nghiên cứu cho thấy chất cytokinin (như kinetin và trans-zeatin) có trong nước dừa có tác dụng chống lão hóa, chống ung thư và chống huyết khối.

Nước dừa rất có ích đối với bệnh nhân bị tiêu chảy để khắc phục tình trạng mất nước từ đường tiêu hóa và làm giảm tiếp nước qua đường tĩnh mạch. Theo WHO, các osmolarity có trong nước dừa còn có tác dụng hơn cả liệu pháp giảm khát ORS (Oral Rehydration Therapy) uống osmolarity. Ngoài ra sự có mặt của các thành phần sinh học khác như acid amin, enzym, khoáng chất và acid béo có thể cũng cho thấy tốt hơn rất nhiều so với osmolarity nhân tạo. Ngoài ra, không giống ORS, nước dừa có hàm lượng natri và clorua thấp, nhưng giàu đường và acid amin, giúp cân bằng thành phần chất lỏng nên nó thực sự là đồ uống lý tưởng hơn bất kỳ đồ uống giải khát mà hiện nay đang có bán trên thị trường.

Nước dừa chứa nhiều enzym hoạt hóa sinh học tự nhiên như phosphatase acid, catalase, dehydrogenase, diastase, peroxidase, RNA polymerase... đây là những enzym trợ giúp tiêu hóa và chuyển hóa cho cơ thể .

Nước dừa chứa nhiều khoáng chất hữu ích như canxi, sắt, magiê, mangan, kẽm, so với một số các loại trái cây, như nước cam chẳng hạn.

Nước dừa chứa nhiều nguồn vitamin B-phức như riboflavin, niacin, thiamin, pyridoxine, và folates. Các vitamin này cơ thể rất cần được bổ sung từ bên ngoài qua ăn uống.

Nước dừa có chứa hàm lượng cao chất điện giải: 100ml nước dừa có chứa 250mg kali và 105mg natri. Cả hai chất điện giải này rất tốt cho nhóm người mắc bệnh tiêu chảy.

Nước dừa tươi giàu vitamin C (ascorbic acid); cung cấp khoảng 2,4mcg hoặc 4% nhu cầu hàng ngày cho cơ thể.

Hàm lượng dinh dưỡng của 100g nước dừa tươi theo nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Mỹ: năng lượng 19kcal, carbohydrates 3,71g, protein 0,72g, tổng chất béo 0,20g, cholesterol 0mg, chất xơ 1,1g, folates 3mcg, niacin 0,080mg, pantothenic acid 0,043mg, riboflavin 0,057mg, vitamin C 2,4mg, natrri 105mg, kali 250mg, canxi 24mg, đồng 40mg…

Nước dừa có tác dụng làm đẹp da, mượt, đen tóc và dùng tắm cho trẻ sơ sinh. Nhân dừa dùng chung với nước có chứa nhiều enzym tốt cho tiêu hóa, dùng chữa các bệnh viêm loét dạ dày, viêm gan, đái tháo đường, lỵ, trĩ, viêm đại tràng.

Nước dừa có tác dụng chữa kiết lỵ cấp tính, cách làm như sau: dùng rau má 50g, nước dừa tươi một quả. Rau má giã, vắt nước, pha với nước dừa uống, mỗi ngày một quả. Ngoài ra nước dừa còn có tác dụng chữa nôn ói: cứ 2 chén nước dừa pha với 1 chén rượu nho, bổ sung thêm nước gừng ép và uống.

Chữa khản tiếng: nước dừa non 1 cốc, rau má 8g; giã rau má, vắt nước pha với nước dừa uống.

Nước dừa còn được dùng để chế biến thức ăn như kho cá, thịt, nấu xôi, luộc gà… có tác dụng làm tăng hương vị thơm ngon, hấp dẫn cho các món ăn, thích hợp cho nhóm người già, trẻ nhỏ và những người gầy yếu.

Chú ý khi sử dụng 

Dừa tươi có sẵn quanh năm ở các vùng nhiệt đới, sau khi thu hoạch nên bảo quản ở nhiệt độ phòng và dùng trong vòng 5 - 10 ngày sau thu hoạch, tốt nhất là nên uống ngay sau khi hái. Nếu đã mở nên dùng ngay, để lâu biến chất và chuyển sang vị chua. Nếu không dùng hết nên cất trong tủ lạnh. Mới đi nắng về, hoặc lúc đang đói mệt không nên uống nước dừa, nhất là người đang có bệnh vì dễ bị gây ra tác dụng phụ như gai sốt, ớn lạnh… Trước khi thi đấu thể thao, không nên uống nước dừa, không nên lạm dụng quá nhiều, mỗi ngày chỉ nên uống một quả. Phụ nữ thai kỳ, trẻ sơ sinh cũng có thể dùng bình thường vì an toàn và không để lại phản ứng phụ có hại cho sức khỏe./.
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng : Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

Nhận xét : 0

Sữa chua tăng cường "bản lĩnh" đàn ông

Theo một nghiên cứu mới của các nhà khoa học, sữa chua không chỉ tốt cho tiêu hóa mà còn giúp tăng cường “bản lĩnh” đối với đàn ông.


Đó là kết quả nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts khi cho chuột đực ăn sữa chua vị vani.

Theo đó, khi được ăn sữa chua vị vani, tinh hoàn của chuột đực sẽ lớn hơn 5% so với những chú chuột thường và nặng hơn khoảng 15% so với chuột chỉ được thức ăn giàu chất béo. Ngoài ra, những chú chuột này còn có dáng "kiêu hãnh " hơn.

Bên cạnh đó, trong các thí nghiệm về sinh sản, những con chuột ăn sữa chua sẽ thụ tinh cho bạn tình nhanh hơn và tái sản xuất tinh trùng mới nhiều hơn so với chuột thường. Còn chuột cái sau khi ăn sữa chua sẽ mắn đẻ hơn, một lứa nhiều con hơn.

Các nhà nghiên cứu đang xem xét nghiên cứu sự tương tác giữa sữa chua và đời sống tình dục của đàn ông. Theo đó, các nhà nghiên cứu sẽ tập trung vào cơ chế thụ tinh ở người cũng như sự liên quan giữa sữa chua và chất lượng "tinh binh" của các đàn ông.

Tuy nhiên, các nhà khoa học tiết lộ, kết quả nghiên cứu này được phát hiện trong quá trình nghiên hướng khác. Ban đầu, các nhà khoa học chỉ tìm xem tác dụng của sữa chua đối với bệnh béo phì trên chuột. Khi đó, những con chuột ăn sữa chua có bộ lông sáng hơn so với đồng loại và vì thế, chúng có dáng vẻ tự tin hơn hẳn. Từ đó, các nhà khoa học đã phân tích và rút ra các lợi khuẩn trong sữa chua đã thay đổi đáng kể đời sống tình dục của các con chuột được thí nghiệm này.

Nguồn:
[1] vnmedia.vn
Đăng bởi : xtvfamily

Ngày đăng :

Nhận xét : 0

- Copyright © Nhà XTV - Powered by Blogger - Redesigned by Phạm Xuân Tiến -