Gửi thông tin liên hệ
Khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn hoặc có bất kỳ yêu cầu nào liên quan đến các nội dung đăng tải trên Blog này, hãy điền và gửi thông tin theo mẫu bên dưới.
Nhãn
AIB
An toàn
Attraction Law
Bài thuốc
BRC
Cây ăn quả
Cây cảnh
Cây thuốc
Dinh dưỡng
Dược phẩm
Gia đình
Giải độc
Giải pháp
Giáo dục
GMP
HACCP
Hạt giống tâm hồn
Hoa cỏ
IFS
ISO
Khoa học
Kinh doanh
Kỹ năng
Lang:En
Lang:Vi
Lãnh đạo
Mẹo
Món ngon
Mỹ Phẩm
Nghệ thuật
Nhân vật
Nuôi trồng
PAS
Photo
QCVN
Quản lý dự án
Quản trị
Rau ăn lá
Sắc đẹp
Stress
Sức khỏe
TCVN
Thư viện
Thực phẩm
Thức uống
Thực vật
Tình yêu
Trái cây
Tranh vẽ
Trắc nghiệm
Video
VietGAP
XTVFamily
zan
Đăng bởi : xtvfamily
Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011
Vi khuẩn một khi vượt qua được hàng rào bảo
vệ của cơ thể có thể gây nên tình trạng viêm nhiễm, làm tổn hại các cơ
quan, khi xâm nhập vào tim có thể gây ra viêm cơ tim, viêm màng ngoài
tim, viêm nội tâm mạc, tổn thương van tim hậu thấp…
Trong số các loài vi khuẩn thì liên cầu khuẩn
(Streptococcus) là loài đặc biệt yêu thích trái tim, là nguyên nhân chủ
yếu gây ra thấp tim và viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
Thấp tim là nguyên nhân phổ biến gây bệnh van tim, liên
quan đến việc nhiễm vi khuẩn gọi là liên cầu khuẩn nhóm A. Đây là tình
trạng liên cầu khuẩn nhiễm ở họng, gây viêm họng, sau đó xâm nhập đến
tim, gây tổn thương van tim. Tuy nhiên, không phải mọi bệnh nhân bị
nhiễm liên cầu khuẩn đều dẫn tới thấp tim, mà chỉ có khoảng 3% số bệnh
nhân bị viêm đường hô hấp trên do liên cầu khuẩn nhóm A do không được
điều trị triệt để nên tiến triển thành thấp tim. Mọi lứa tuổi đều có thể
mắc bệnh, thường là 5 – 15 tuổi, đôi khi nhỏ hơn. Có khoảng phân nửa số
bệnh nhân đã bị thấp tim sẽ tái phát các đợt thấp tim sau đó.
Viêm họng thường xảy ra vào mùa lạnh, mùa mưa, trong đó
30% trường hợp do liên cầu khuẩn nhóm A gây ra (còn lại do virút). Loại
viêm họng này khởi phát đột ngột với triệu chứng sốt, đau họng, nuốt
đau, không sổ mũi. Khoảng hai đến ba tuần sau viêm họng, bệnh nhân bị
viêm khớp, tập trung ở những khớp lớn như đầu gối, khuỷu tay, cổ chân và
di chuyển nhanh từ khớp này sang khớp khác. Sau năm đến bảy ngày, khớp
hết đau dù không điều trị gì, không để lại di chứng. Sau khi viêm họng,
trong cơ thể xuất hiện kháng thể chống lại liên cầu khuẩn. Chính kháng
thể này lại phá huỷ mô nội mạc tim và cơ tim, gây bệnh ở tim.
Vấn đề nguy hiểm nhất của thấp tim là các biến chứng
cấp và đặc biệt là hậu quả mạn tính. Trong giai đoạn cấp, thấp tim có
thể gây viêm cơ tim cấp, rối loạn nhịp... có thể kèm các triệu chứng
khác ở da, khớp, thần kinh; nặng hơn là khiến bệnh nhân tử vong. Về lâu
về dài thì gây tổn thương van tim (các lá van dày lên, xơ cứng, vôi hoá;
các mép van có thể bị dày, dính) đưa đến bệnh van tim do thấp, thường
là hẹp van hai lá (trên 90% trường hợp hẹp van hai lá là do thấp tim),
hở van động mạch chủ… Tổn thương van tim do thấp nếu nặng cần phẫu thuật
thay van tim nhân tạo.
Hiện nay, thấp tim và bệnh van tim do thấp ít gặp ở các
nước phát triển, nhưng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt
Nam, vẫn là một vấn đề đáng quan tâm. Những yếu tố thuận lợi dẫn tới
thấp tim là cơ địa người bệnh, vệ sinh không tốt, điều trị không đầy đủ.
Vì vậy, để phòng ngừa, cần vệ sinh răng, họng, miệng hàng ngày, tránh
không để trẻ mắc các bệnh viêm đường hô hấp trên như viêm họng, viêm
mũi, viêm amiđan, VA, viêm xoang. Khi phát hiện trẻ bị viêm đường hô hấp
do liên cầu khuẩn nhóm A, cần tích cực điều trị theo toa bác sĩ (dùng
kháng sinh để loại trừ ngay sự nhiễm liên cầu khuẩn). Việc điều trị kịp
thời và hợp lý giúp ngăn ngừa liên cầu khuẩn xâm nhập tim gây thấp tim.
Nếu đã bị thấp tim, cần tuân thủ triệt để theo chương trình “phòng thấp
cấp 2” được bác sĩ áp dụng (tiêm kháng sinh mỗi ba tuần một lần, kéo dài
đến 40 tuổi hoặc lâu hơn, sớm hơn tuỳ trường hợp). Những bệnh nhân đã
được phẫu thuật tim do thấp tim vẫn có nguy cơ tái phát nên cũng cần
phòng thấp.
| Sau khi viêm họng, trong cơ thể xuất hiện kháng thể chống lại liên cầu khuẩn. Chính kháng thể này lại phá huỷ mô nội mạc tim và cơ tim, gây bệnh ở tim. |
Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn
Nội tâm mạc là lớp mô bao phủ thành trong của các buồng tim và van tim. Khi vi khuẩn, nấm hoặc các vi sinh vật theo dòng máu đến lớp nội tâm mạc này và “làm tổ” ở đây thì sẽ gây viêm nhiễm, tạo ra các sang thương. Bởi vì nguyên nhân gây bệnh thường là vi khuẩn (liên cầu khuẩn chiếm khoảng 60%, tụ cầu khuẩn chiếm khoảng 25%...) nên bệnh lý này được gọi là viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
Biểu hiện của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn thường là
sốt kéo dài, khó thở, yếu cơ, đau ngực, đau khớp… Tổn thương tại van tim
thường là loét và sùi, gây biến dạng lá van, tổn thương cấu trúc và
chức năng của van tim. Đây là bệnh rất nặng, nếu không phát hiện và điều
trị sớm có thể gây ra suy tim, các biến chứng nặng nề, dẫn đến tử vong.
Hầu hết các trường hợp bệnh được điều trị với kháng sinh. Ngoài ra,
điều trị ngoại khoa được đưa ra trong một số trường hợp cần thiết như
suy tim không khống chế được do tổn thương van tim, viêm nội tâm mạc
nhiễm khuẩn trên bệnh nhân có van tim nhân tạo làm van không ổn định,
mảnh sùi to có nguy cơ cao gây tắc mạch… Mục đích cơ bản của điều trị
ngoại khoa là lấy đi những mảnh sùi hoặc hoại tử mà không thể điều trị
nội khoa được, sửa hoặc thay van tim bị tổn thương.
Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn gặp ở nam giới nhiều gấp
hai lần nữ giới và hiếm khi gặp ở những người khoẻ mạnh, có van tim bình
thường. Bệnh thường gặp ở người có tình trạng nhiễm trùng không được
điều trị, tiêm chích ma tuý, có bệnh lý tim mạch. Những tình trạng tim
mạch khiến bệnh nhân tăng nguy cơ bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn
là bệnh nhân đã được thay van tim nhân tạo, kể cả van cơ học lẫn
van sinh học, bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh, bệnh nhân có bệnh lý
van tim mắc phải hoặc van tim hậu thấp, bệnh nhân cơ tim phì đại, bệnh
nhân bị sa lá van hai lá gây hở van hai lá… Bệnh nhân có nguy cơ
cao mắc bệnh cần giữ vệ sinh răng miệng tốt; đến nha sĩ kiểm tra thường
xuyên; tránh những thủ thuật xâm lấn không cần thiết như tiêm chích ma
tuý, xăm mình; khám bác sĩ ngay khi có vết thương hoặc dấu hiệu nhiễm
trùng… Ngoài ra, những bệnh nhân này cần được phòng ngừa viêm nội tâm
mạc nhiễm khuẩn khi làm thủ thuật hoặc phẫu thuật. Để phòng ngừa,
bác sĩ sẽ cho bệnh nhân sử dụng kháng sinh trước khi được phẫu
thuật hoặc được làm các thủ thuật (phẫu thuật trên mô nhiễm
trùng, đường tiết niệu, tiêu hoá, hô hấp, can thiệp tim mạch như
nong van, thông tim… hoặc những thủ thuật có nguy cơ đưa vi khuẩn vào
dòng máu) và trường hợp thường gặp nhất là điều trị răng (nhổ
răng, lấy cao răng…)
BS.CK1 Ngô Bảo Khoa
Nguồn:
[1] sgtt.vn
{ 0 comments... xem bên dưới hoặc Để lại một nhận xét }